Welcome Guest ( Log In | Register )

Profile
Personal Photo
Options
Options
Personal Statement
KhoaNam doesn't have a personal statement currently.
Personal Info
KhoaNam
Bảo vệ tổ quốc
Age Unknown
Gender Not Set
Location Unknown
Birthday Unknown
Interests
No Information
Other Information
Country: United States
Statistics
Joined: 8-August 09
Profile Views: 6,804*
Last Seen: Private
Local Time: Feb 21 2018, 02:38 PM
7,630 posts (2 per day)
Contact Information
AIM No Information
Yahoo No Information
ICQ No Information
MSN No Information
* Profile views updated each hour

KhoaNam

Năng Động

***


Topics
Posts
ibProBattle
Recent wiki edits
Arcade
Blog
Shared Photos
Comments
Friends
My Content
15 Feb 2018

Thanh Minh trong tiết tháng ba


* Viết về những người lính, người vợ của hai bên
* Gởi riêng Lý, KB; Lợi “râu”, và “Anh Đại”.

1. Tháng 9, 1972 Quảng Trị

Trong căn hầm tối nhờ nhờ mờ đục đào sâu dưới đất vùng đồi dương liễu khu Nhà Thờ La Vang, Tỉnh Quảng Trị, Trung Sĩ Phan Tâm thầm thì tiếng nhỏ với viên Thượng sĩ Thường Vụ Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến: “Ông thầy nói giùm với “ông Đại” cho tôi về lại với đại đội I.” Tại sao? Thường Vụ Lý tròn xoe cặp mặt đứng tròng nóng rực những tia gân đỏ do thức khuya và mệt nhọc nhìn qua khoảng sáng tối cố tìm xem nét mặt của trung sĩ Tâm. “Tại vì ở đây, đại đội chỉ huy yên quá mà trên thằng 1 thì đụng lia chia, tôi không nỡ bỏ anh em trên đó.” “Dẹp! Mầy không thấy bao nhiêu chuyện đang bầy hầy, với chẳng lẽ bộ chỉ huy tiểu đoàn nầy là đơn vị văn phòng ngồi chơi xơi nước sao mầy.. Lại thêm vụ ông Anh của đại đội 1 thì vừa bị bể gáo. Mầy về lại với ai trên đó? “Ông Đại” đang điên lên vì vụ mất ông thầy của mầy. Coi chừng mầy vừa bò quá Ngã Ba Long Hưng thì đã kéo xác mầy trở về lại đây. Thằng vi-xi đầu trọc nơi cao điểm Trường Nguyễn Hoàng đang đợi mầy đấy! Cái thằng khốn nạn vừa cho ông thầy mầy và mấy đứa con của đại đội 1 đi phép dài hạn.. Đ..m bàn giao với nhảy dù chưa kịp đánh đấm gì cả đã mất gần hết một đại đội. Đừng có ham! Về đi!” Thượng sĩ Lý hít mạnh hơi thuốc quân tiếp vụ tỏ ý muốn chấm dứt câu chuyện sau một tràn gầm gừ, nguyền rũa. Trung sĩ Tâm kèo nài tha thiết: “Cũng vì vậy tôi mới xin thượng sĩ nói với trung tá cho tôi về lại trên đại đội 1.” Thường vụ Lý nhìn chăm Trung sĩ Tâm qua khoảng tối và hiểu ra: Khi người lính đã gọi đến những cấp bậc tức câu chuyện đã thật sự nghiêm trọng, khẩn cấp. “Được. Để tao đưa mầy lên gặp ổng.. Mà vết thương nơi chân mầy tháng trước dưới Hải Lăng nay đã khá chưa?” Thượng sĩ Lý trầm giọng thân mật, anh đưa bao thuốc nhăn nhúm về phía trung sĩ Tâm.. Làm một điếu đi rồi bò theo tao. Ánh sáng hộp quẹt loé lên. Đến bây giờ thường vụ Lý mới nhìn rõ mặt gã trung sĩ trẻ tuổi.. Anh gật gù: “Bọn nó gọi mầy là “Tâm em” cũng phải. Mầy nhỏ như thằng con nít không à..” Hai người cúi thấp xuống bò theo những giao thông hào có nắp che chắn về phía hầm chỉ huy của tiểu đoàn.

Trung Tá Quân, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến và ban chỉ huy đang ngồi chen chúc ngột ngạt quanh chiếc bản đồ ngang dọc những mũi tên xanh đỏ dưới ánh sáng vàng yếu của mấy bóng đèn nhỏ thắp bởi pin máy truyền tin. Tất cả đồng mặc áo lót ngụy trang màu sẫm, mồ hôi đẫm ướt mặt chảy đường lớn trôi xuống ngực. Ông Quân khản giọng mệt nhọc: “Đây là những mục tiêu của tiểu đoàn mình.. Bắt đầu từ đường Lê Huấn, dài theo đường Quang Trung gồm trường Phước Môn, nhà thờ Thạch Hãn, ty cảnh sát Quảng Trị.. Nhưng muốn chiếm được thì phải clear mấy cái chốt, quan trọng nhất là đám chốt kiền ở cao điểm Trường Nguyễn Hoàng chỗ có thằng vi-xi bắn sẻ đã hạ ông đại úy Anh.” Trung tá Quân ngưng nói, ông châm điếu thuốc, đè xuống xúc động.. “Tôi đã nói với ông Anh rồi, bên nhảy dù từ tháng 7 đến giờ bị mấy cái chốt nầy kiềm chặt.. Mấy ông phải rất cẩn thận, kỳ nầy không phải như ở Huế năm Mậu Thân. Đây là bọn 320 và 325 tổng trừ bị ngoài Bắc mới đưa vô. Nó không được phép rút lui để đám vi-xi bên Paris được thế nói chuyện với Mỹ. Ở Huế năm 68 mình chỉ đụng với bọn địa phương, chủ lực miền, còn bây giờ là trận địa chiến với lính chính quy Bắc Việt. Hầm ở đây là công sự của mình bỏ lại giúp nó chịu được cả bom.. Khổ thật, ông Anh lại mới lấy vợ..” Trung Tá Quân ngừng nói quay về phía đầu căn hầm khi nghe tiếng chào của viên thường vụ.. Gì đấy ông? Trung tá, có trung sĩ Tâm muốn xin trung tá cho về lại đại đội 1. Tâm nào? Dạ “Tâm em” thằng mang máy cho ông Anh kỳ mới ra trường.. Sao nữa? Thượng sĩ Lý lục đục chuyển động.. Đó, mầy lên nói thẳng với ổng.. Trung sĩ Tâm bò tới vùng ánh sáng: “Ông Đại… dạ trung tá cho em về lại đại đội 1.” Ông Quân thoáng suy nghĩ, hỏi dồn: “Mầy xin về lại đại đội 1 làm gì?” Tâm trả lời mau như đã định sẵn: “Để xử cái thằng nơi trường Nguyễn Hoàng, rửa mặt cho ông thầy em. Em người miền ngoài nầy, lớn lên, đi học ở đây, nên em biết cách, biết đường đi vô trường đó.” Tiểu đoàn trưởng Quân cười tiếng nhỏ.. “Tưởng mầy xin về hậu cứ cưới vợ chứ xin về lại đại đội 1 thì tao ok liền.. Đây, mầy muốn đi phép 24 tiếng về Huế hay theo Đại Úy Lộc, ông thầy mới của mầy về vị trí đại đội 1 bây giờ.” Tâm hứng khởi: “Em đi liền. Hết hành quân, trung tá cho em đi phép về Thủ Đức, gần cả năm rồi không gặp mặt vợ.” Trung Tá Quân nói vui: “Không có gì trở ngại, ông thanh toán được cái chốt đó tôi xin sư đoàn cho ông lên hai cấp, móc luôn cái lon thượng sĩ khỏi qua trung sĩ nhất. Có cả tiểu đoàn nầy làm chứng lời tôi.” Khi Trung Tá Quân xử dụng cách xưng hô “ông, tôi” với thuộc cấp tức đã là lời tuyên bố chính thức. Từ lâu ông được tiếng là “Anh Đại” do lòng kính yêu của toàn đơn vị. Khi bò ra khỏi hầm chỉ huy, Đại Uý Lộc, người có danh hiệu “Lộc râu”, đại đội trưởng cứng nhất của binh chủng mới được điều về thay thế viên đại đội trưởng vừa tử trận để thực hiện kế hoạch đánh chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị với Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến giữ nhiệm vụ mũi tiến công chính. Khi ra khỏi hầm bộ chỉ huy tiểu đoàn, “Lộc râu” chắc lưỡi cười cười nói với Tâm: “Tâm em” mầy chơi bạo thiệt, vừa rồi tao nghe mầy mới bị thương hôm tháng 6 mà nay đã xin ra lại đại đội tác chiến.. Không sợ sao em? Tâm bình thản nói gọn: “Đời có số mà đại úy..” Bỗng nhiên Tâm chợt nghĩ đến cô vợ trẻ ở Thủ Đức, nơi hậu cứ Sóng Thần của đơn vị. Đã lâu Tâm không gặp vợ, tuy nhiên cô nhỏ luôn có mặt với anh.. Vào những lúc nguy nan anh có phản ứng gần gũi với cô như một phần của bản thân hơn là một người khác phái với liên hệ vợ chồng. Nghĩ đến ngày phép sẽ có sau khi xong hành quân lòng Tâm chợt ấm áp bình an. Nhưng nỗi vui của anh không kéo dài khi nhớ lại chiếc đầu bị bắn vỡ của Đại Úy Anh, người chỉ huy mà Tâm đã theo cùng từ đầu năm 1968 ở mặt trận Thành Nội Huế khi ông Anh mới ra trường sĩ quan, và Tâm vừa mãn khóa căn bản của binh chủng về đại đội 1 mang máy truyền tin cho Thiếu Uý Anh. Hai thầy trò đã sống cùng nhau qua dài ngày lửa, đạn và sự chết. Suốt năm 1968 khởi đầu kia hai người đã hành quân hơn ba trăm năm mươi ngày đánh từ Huế vào đến vòng đai Sàigòn, và năm 1972 nầy thì hầu như các tiểu đoàn của binh chủng không hề về lại hậu cứ ở Thủ Đức khi bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn dời ra xã Hương Điền ở Quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Tâm nhớ lời nói đùa của Đại Úy Anh: “Biết thế nầy mầy và tao lấy vợ người Huế còn có đường đi phép về thăm”. Tâm thấy trong mắt có cảm giác cay cay khi nghĩ về ông thầy và tiếng khóc rấm rức của cô Anh khi từ Sàigòn ra Huế nhận xác chồng ở nhà xác bệnh viện Nguyễn Tri Phương chỉ với một người thân bên cạnh – Trung sĩ Tâm hay binh nhì “Tâm em” mang máy truyền tin cho ông Anh từ năm 1968.

Trung đội phó trinh sát Lê Văn Hưu nhìn quanh những bộ đội dưới quyền đang ngồi chật trong căn hầm dưới nhiều tầng bê-tông cốt sắt của ngôi trường đỗ sụp, nén chặt, ép cứng lại sau bốn tháng chiến trận hứng đủ vô lượng đạn pháo, bom của cả hai bên. Lợi dụng thời gian ngắn yên lắng giữa những trận đánh, sau các cuộc xung kích, phản công, theo đúng chỉ thị của chính ủy đơn vị mà nay đã thành thói quen, Hưu bắt đầu cuộc học tập trong ngày với các tổ viên bằng lời tố cáo đã được học tập thuộc lòng: “Chỗ nầy là trường học của nhân dân nhưng bọn ngụy ác ôn đã phá sập trước khi rút lui từ đầu tháng 5. Thủ trưởng lệnh cho đơn vị ta chốt ở đây là điểm xa nhất để không cho bọn ngụy phản công trong kế hoạch chiếm lại cổ thành nầy. Chúng ta là đội quân tiên phong của đảng quang vinh và bác Hồ kính yêu vì nhân dân giải phóng Quảng Trị để đồng bào thoát khỏi ách kiềm kẹp của Mỹ-Ngụy.. Hưu ngập ngừng thoáng ngắn, đổi giọng rắn rỏi: “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta. Bọn ngụy quân ngụy quyền là tay sai của đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta.. Bộ đội ta vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh chiến đấu dưới lãnh đạo của đảng quang vinh và bác Hồ kính yêu… Đánh.. đánh cho Mỹ cút.. Đánh.. đánh cho ngụy nhào thống nhất đất nước thực hiện nhiệm vụ chiến sĩ tiên phong của phong trào cộng sản quốc tế do Liên Xô và Trung quốc lãnh đạo…” Sau phần phát biểu hướng dẫn, Hưu ra hiệu cho gã bộ đội giữ súng phóng lựu B40 ngồi bên cạnh.. Đồng chí Trung phát biểu.. Gã bộ đội vẫn cúi mặt xuống đất lập lại ngắt khoảng qua tiếng thở bị nén.. “Đế quốc.. đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, là kẻ thù.. kẻ thù của.. nhân dân..ta…Bọn ngụy quân ngụy quyền.. là kẻ thù, kẻ thù của..nhân dân ta..” Khi các tổ viên thay phiên lập lại lời học tập, Hưu nhìn quanh, ra bên ngoài qua lỗ hổng của căn hầm.. Toàn cảnh thị xã Quảng Trị chỉ là một khối gạch đá vụn vỡ tan nát với những xác người vươn vải không còn nguyên vẹn tay, chân, đầu, mình.. Không biết là xác dân hay lính ngụy nhưng chắc chắn không phải là lính Mỹ do nhận dạng qua những bàn chân trần, ngón nhỏ bầm tím máu khô; những chiếc sọ vỡ nát (phải là sọ của người dân vì không có chiếc nón sắt) há hốc nhìn lên bầu trời luôn xám đục khói đạn pháo, hơi bom, và mùi người thây người bốc lên ong óng dày đặt.. Sau khi các tổ viên đã giáp vòng phát biểu, Hưu muốn tiếp tục kể thêm về tội ác Mỹ-Ngụy theo nội dung đã được học tập từ trước khi vào trận địa, nhưng các tổ viên hầu như không còn sức lực để ngẫng đầu lên nghe lời anh.. Hưu kìm giữ tiếng thở dài, đưa tay lên vò đầu, những sợi tóc ngắn lởm chởm nham nháp chạm vào da lòng bàn tay. Ầm! Ầm! Những trái bom bất chợt rung dội căn hầm như địa chấn trước khi nghe âm thanh máy bay lướt qua.. Khẩn trương! Khẩn trương.. Chúng nó lại phản công! Hưu và các tổ viên nhanh chóng phân tán vào các vị trí chiến đấu, anh cùng hai tổ viên theo những khối gạch vỡ bò lên điểm tác xạ cao nhất nhìn xuống con đường chạy xéo về phía hướng Nam, ngoại vi thị xã. Tổ ba người trang bị hai tiểu liên AK 47, ngoài đơn vị đạn cơ hữu hai tổ viên còn trang bị thêm đạn phóng lựu B40 do Hưu xử dụng; anh còn được tăng cường thêm một súng trường Nga có gắn máy nhắm. Vừa bò lên vị trí Hưu vừa gầm gừ lẫm bẩm.. Địt mẹ chúng mầy.. Địt mẹ chúng mầy! “Chúng mầy” trong câu chưởi không vì lòng giận dữ bao gồm nhiều đối tượng mà chính Hưu cũng không xác định rõ là ai. Chỉ biết từ sâu trong lòng, Hưu không chưởi riêng bọn lính ngụy có thể đang bắt đầu tập trung đợt phản công mới. Quái chúng nó lại trốn mất đâu rồi.. Từ trên cao điểm, Hưu nhìn dọc theo con đường không bóng người đang sập tối với trần mây thấp u ám chập choạng khối nhà cửa tang hoang đổ nát. Có con chó cúi đầu chạy lóng ngóng, thỉnh thoảng tru dài âm ai oán rờn rợn.. Địt mẹ chúng mầy có trốn ông cũng giết tất! Lần nầy anh chưởi rõ bọn lính ngụy mà theo ý anh là nguyên nhân gây nên cảnh chết chóc tan hoang của thị xã nầy và hoàn cảnh tuyệt vọng của bản thân anh và những tổ viên trinh sát. Qua ống nhắm súng bắn sẻ, Hưu cố dò tìm những chấm đen đầu người di động thấp thoáng ẩn hiện giữa đám gạch ngoài ngỗn ngang mặc chung quanh ầm vang âm động đạn pháo binh 105 ly tiếp theo đợt bom vừa chấm dứt để yểm trợ tiếp cận cho đám lính thủy đánh bộ tấn công. Pháo từ phía bắc vùng Đông Hà, Cam Lộ bắt đầu phản pháo được bộ đội tiền sát cố thủ trong cổ thành điều chỉnh rơi chính xác giữa đội hình quân ngụy.. Thân thể người theo cùng gạch đá bay lên. Bây giờ Hưu đã hoàn toàn biến dạng nên thành một con người mới với phản ứng cơ bắp mau lẹ, trí não săn sắc ý chí quyết liệt như khi nhận lời động viên trực tiếp qua hệ thống điện thoại từ tư lệnh mặt trận Nguyễn Việt xuống mỗi đơn vị cơ sở: “Một tấc không đi. Một ly không dời. Quyết chiến, quyết thắng Giải phóng Quảng Trị. K3“Tam Đảo” còn, Thành cổ Quảng Trị còn; Triệu-Hải (Triệu Phong-Hải Lăng) anh hùng diệt gọn hai sư! (Ý nói Trung Đoàn 27 Độc Lập có danh hiệu Triệu Hải đánh tan hai sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù của quân đội miền Nam.. “ Đấy cũng là lời động viên mà đã có lần Hưu tự nhủ thầm: “Nói láo cũng vừa phải thôi, trung đoàn 27 gần hai ngàn người kia đã không còn đầy hai-mươi mống mà đánh đéo thế được với hai sư của bọn lính thủy đánh bộ và bọn dù ngụy..”. Trở về với thực tại, Kiên nhìn qua bóng tối của căn hầm đang nháng lửa rung rinh bởi loạt pháo bắn điều chỉnh càng ngày càng chính xác chứng tỏ tiền sát pháo binh đối phương đang định đúng vị trí của tổ trinh sát. Ngoài ra Hưu còn có nhận xét qua kinh nghiệm hơn ba tháng chiến đấu là chen trong đợt pháo cường tập xuất phát từ nhiều vị trí của lần nầy có những vị trí pháo khởi hành rất xa không nghe được đâu từ hướng đông, phía bờ biển với loại đạn có sức công phá mạnh gấp bội loại đạn 105 ly cơ hữu của pháo binh ngụy; loại đạn pháo mới mà Hưu không định rõ danh hiệu nầy hiện đang bao trùm toàn thể khu vực ngôi thành cổ, ngay trên đầu của vị trí đơn vị Hưu. Qua ánh lửa loé sáng từng chập liên tục, Hưu bắt gặp ánh mắt thất thần của những tổ viên khiến anh muốn nói lên lời than vản.. “Chắc không thoát khỏi trận pháo nầy đâu chúng mầy ạ, với loại pháo mới nầy bọn ngụy quyết tâm dứt điểm mình.” Nhưng thật ra Hưu chỉ có ý nghĩ với mối kinh hoàng đang dâng ngập. Trời bên ngoài đã sập tối, giữa chuỗi âm động của đợt pháo không dứt khoảng, bỗng nhiên Hưu nghe rõ thanh âm sắc đục của những miếng tôn lợp nhà do có thân người đang chuyển động bên trên.. Anh lạnh buốt sống lưng.. Bỏ mẹ, bọn ngụy đang bò dưới chân mình. Chúng đã lợi dụng lúc dội bom và đợt pháo để xâm nhập vào vị trí của anh.. Nghĩa là chúng cũng chia chung phần cơn bom và đợt pháo đang dội xuống. Thật ra tất cả ý nghĩ như trên chỉ hiện ra trong một chớp mắt theo luồng ánh sáng và tiếng nổ xé toang bóng tối cùng lúc giúp Hưu kịp nhận ra dạng một chiếc sào dài theo lỗ hổng được đưa vào căn hầm.. Và sau tiếng nổ từ đầu cây sào, Kiên chìm xuống bóng tối dầy. Màn tối thẩm của cái chết có hình khối với những tảng vách tường nhà, và gạch đá đổ xuống đè lên thân anh. Trong vũng bóng tối đầy đặc, dưới khối gạch đá ngỗn ngang chồng chất, Hưu nghe dần tiếng nói xì xào của lính miền Nam.. Đ.. má cái chốt nầy đây, không chơi trò “cần câu cá” cho nó ăn claymore theo cách “ông râu” thì còn lâu mới vào được.. Hưu nghe rõ bước chân người đang đi trên gạch đá chụp trên thân anh.. Hưu dùng sức mạnh còn lại cuối cùng lần gỡ trái lựu đạn chày nơi thắt lưng, tháo khóa an toàn, đẩy theo khe hở dò dẫm được bởi những ngón tay vô thức. Ánh sáng lóe lên. Tiếng nổ xé toang và giọng Trung sĩ Tâm gào lớn.. Chết anh Thanh em ơi!!

Đại úy “Lộc râu” nói như reo với Trung Tá Quân: “Trình Phu Quân (danh hiệu truyền tin của ông Quân) thằng “Tâm em” câu được cái chốt ở trường Nguyễn Hoàng với claymore rồi.. Phu quân cho cua (chiến xa) lên chỗ tôi rồi mình cùng vào nướng (xử dụng súng phun lửa) cái bánh chưng (chiếm Cổ Thành Quảng Trị)..” “Xong rồi, có ngay cua cho ông, và đưa thằng em lui gặp moa..” Tiểu đoàn trưởng Quân hân hoan phấn khởi. Giọng Đại Úy Lộc chuyển nhanh sang nghẹn cứng, đanh lại xót xa: “Tâm em bị thằng vi-xi xé áo luôn rồi.” Sao? Trung tá Quân hỏi dồn? Vi-xi nó chơi đòn sát thủ trước khi chết. Tôi đang tìm cách “moi” thằng em ra. Nhưng Đại Úy “Lộc râu” không còn cơ hội để tìm ra xác của “Tâm em” bởi một loạt pháo của phía cộng sản mạnh mẽ hơn từ Ái Tử, bắc sông Thạch Hãn đổ dồn xuống vị trí chốt của tổ trưởng Lê Văn Hưu trong đó có xác của Trung sĩ Tâm và hai khinh binh Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến. Và chỉ vài giờ sau có thêm rất nhiều người chết mới của cả hai bên kéo dài cho tận buổi sáng ngày 14 tháng 9 năm 1972 khi ngọn cờ Vàng Ba Sọc đầu tiên được dựng lên khối gạch, đá ngỗn ngang của Cổ Thành Quảng Trị. Sau ngày 16, khi rút quân về phía sau, Đại Úy “Lộc râu” muốn chỉ vị trí “Tâm em” đã chết cho ông Quân, nhưng anh không làm sao định được nơi người lính đã ngã xuống. Theo thống kê sau nầy về trận đánh cuối cùng trong tháng 9 năm 1972, mỗi ngày không kể phần nhảy dù, biệt động, và bộ binh, chỉ riêng Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến có khoảng một trăm-năm mươi người lính hy sinh. Phía bộ đội cộng sản thì cho biết: Ngoài Trung đoàn Triệu Hải bị xóa sổ; Trung đoàn 48B thuộc Sư Đoàn 320B, đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã (theo hồi ký phổ biến vào năm 1997 của Trung tướng Lê Tự Đồng tư lệnh lực lượng cộng sản tại mặt trận tỉnh Quảng Trị) và các trung đoàn tham chiến đồng bị tổn thất hơn 80% quân số. Điễn hình Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 95 từ khi vào cổ thành đến khi rút ra (kể từ ngày 13 tháng 7 đến ngày 10 tháng 9 năm 1972) chỉ còn đúng mười-hai người sống sót vượt sông Thạch Hãn tại làng Nhan Biều chạy về phía Bắc.

2- Tháng Tư sau năm 1975..

Cô giáo Thanh luôn có cảm giác, “Làm sao sống được tới ngày mai?” từ buổi chiều Ngày 30 Tháng Tư năm 1975 khi bế đứa con nhỏ, tay xách bịch ni-lông áo quần kinh hoàng rời khỏi khu gia binh Trại Sóng Thần của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Cô đã không thể phân biệt những hỗn loạn chung quanh đang ầm vang tiếng chưỡi mắng, nạt nộ chen lẫn tiếng súng xử bắn những người không kịp rời nhà theo lịnh của bộ đội cộng sản nói tiếng vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh. Súng nổ không tiếng đạn bay ra vì đầu đạn đã ghim sâu vào thân con người ép dính sát đầu nòng súng. Địt mẹ chúng mầy là vợ con của bọn ngụy “trâu điên” (Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến lừng danh của quân đội cộng hòa).. Chúng ông không banh xác chúng mầy ra thì thôi chứ đừng hòng lấy được cái áo, cái quần, cái bát, đôi đũa.. Đồ đạt trong nhà nầy là do bọn chồng ngụy chúng mầy đã cướp đoạt của nhân dân mà có.. Cút!! Cút ra khỏi đây mau… Tên bộ đội miền Bắc túm đầu tóc cô đẩy ra cửa trong khi cô luống cuống ôm đứa bé và gói áo quần vừa nhặt nhạnh được.. Tuy nhiên cô cũng nhớ ra xác của hạ sĩ Lượm, người lính cùng đơn vị của chồng nằm chỏng chơ bên cạnh chiến xe lăn mà tên lính cộng sản vừa hất anh ta xuống để đoạt chiếm. Xác hạ sĩ Lượm chết không nhắm mắt chắc đang cố tìm hình ảnh của vợ con không biết vừa chạy đi đâu. Cô Thanh cũng không nhớ sau đó bằng cách nào, trong bao lâu cô đã bồng con về được ấp Suối Nghệ, Phước Tuy với cha mẹ.. Cô hồi tưởng một cách mơ hồ, đứt khúc đoạn đường từ Trại Sóng Thần cô đi lần ra chợ Thủ Đức, theo xa lộ đi về hướng Biên Hòa.. Tuy nhiên lại cô nhớ như in đoạn đường nầy vì khi đi ngang qua Nghĩa Trang Quân Đội, Thanh đã nhìn thấy rất rõ bức Tượng Tiếc Thương bị giật sập đỗ ngược xuống. Sở dĩ cô chú ý đến địa điểm nầy vì từ ba năm qua cô đã nhiều lần đến đây với hy vọng tìm ra được xác người chồng chết từ một ngày tháng 9 năm 1972 tại Quảng Trị. Cô giáo Thanh sở dĩ sống qua được bao năm cũng vì thằng Thành càng ngày càng giống người vắng mặt, và hơn thế nữa cô không hề nghĩ anh Tâm đã chết. Cô có cảm giác rất thật là người chồng chỉ vắng mặt đâu đó cho dầu đã bao lâu và cách bao xa. Nên cô vượt sống với, bởi nghĩa vụ tự đặt ra cho chính mình: Sẽ có một một ngày đi gặp chồng. Cũng quả thật cô cũng không cảm thấy đau khổ quá đổi nặng nề do lần vắng mặt lâu dài không tung tích của người chồng, vì cảnh sống từ ngày 30 tháng Tư năm 1975 kia đã tạo nên trong lòng cô phản ứng thường hằng: Coi như bản thân mình đã chết. Và cũng bởi người chết nào biết đến cường độ của cơn đau. Mỗi buổi sáng khi nhấn lưỡi cày sâu xuống mạch đất của thửa ruộng chạy dọc bên suối Sông Cầu dưới chân Núi Đất cô thường nhắm mắt lại trong khoảng khắc với lời nói ra tiếng: “Anh Tâm ơi, anh ở đâu, anh cầu cho mẹ con em.. Để sẽ có ngày em tìm ra anh nghe anh Tâm.” Rất nhiều lần khi nói lời than tội nghiệp nầy cô mong được tuông trào giòng nước mắt, nhưng điều cầu mong nầy cũng chỉ là mối ao ước không thành, bởi hình như lượng nước mắt đã cạn khô từ bao lâu. Dẫu Thanh luôn có cảm giác cay cay sâu trong mắt khi nhận ra thực tế cảnh sống của mỗi ngày, giờ đang trải qua. Thanh cũng không hề nghĩ ra rằng cô vừa qua tuổi hai mươi, và đã một thời là cô giáo đứng giữa đám con trẻ tập hát lời vui hòa sống động yêu thương. Tháng Tư một năm sau 1975 cô quyết đi tìm. Anh Tâm ơi, em đi gặp anh đây. Anh ở đâu cho em gặp anh. Cô lập đi lập lại cầu mong ngắn ngủi nầy chen trong chuỗi thầm thì tôn kính an ủi.. Kính mừng Maria đầy ân phước.. liên lũy lần hạt Mân Côi khi đã yên chỗ ngồi trong toa tầu chen chúc nhớp nháp của chuyến tàu lửa Bắc Nam. Lên từ ga Xuân Lộc trong buổi chiều váng vất nhá nhem tối chung quanh rừng Long Khánh loang tỏa khói mờ, chiều tối ngày hôm sau cô giáo Thanh đến ga Quảng Trị. Từ nhà ga, Thanh cảm thấy rờn rờn sự chết bao trùm lẫn khuất đâu đây khi nhìn lên khối gạch đá đổ nát nằm hỗn độn bên bờ sông cạn đáy mà người dân chỉ cho cô biết đấy là cổ thành Quảng Trị một thời trấn đóng trên sông Thạch Hãn. Anh Tâm ơi.. Anh ở đâu? Bất ngờ nước mắt cô chảy ra lúc nào không hay. Thật ra cô muốn gào lớn tiếng: Anh Tâm ơi, anh chết nơi đâu? Chữ “chết” mà bao lâu cô không hề nói ra. Không dám nghĩ đến.

Từ Huyện Cẩm Thủy chị Trịnh Thị Hàn bắt đầu cuộc hành trình theo Đường 119 đi về hướng Đông-Nam ra thị xã Thanh Hóa. Trước khi đi bà mẹ chồng đã có lời than: U không dám cản con, nhưng con nên nghĩ lại, từ đây ra tỉnh những mấy mươi cây số, con đi cũng mất một ngày.. Xong theo tàu hỏa vào Nam mà u biết tàu chỉ chạy đến Hà Tỉnh hoặc ra Hà Nội.. Cả đời con chưa đi quá Huyện Yên Định thì biết đâu đường đi vào Nam tìm thằng Hưu. Nhà ta quá nghèo nếu u đi theo chỉ làm con thêm bận bịu, tốn kém, vã lại u còn phải ở lại nhà để nom mấy sào ruộng, nhưng quả thật để con đi một mình u không yên tâm được.. Hay con đợi đến qua thu hoạch, nhà có dư đôi chút, u đi theo con luôn thể, nó là chồng con nhưng là con của u. Nhưng chị Hàn đã có lời cương quyết dứt khoát: U không phải lo cho con, đây là bổn phận riêng của con đối với anh ấy. Mấy năm trước trong chiến tranh chống Mỹ một mình con cũng đã hoàn tất được những công tác mà xã phải huy động đến cả cụm, cả tổ mới xong được. Con đã từng ứng chiến tổ phòng không suốt đêm, sáng ra đồng cày ruộng, chiều đi tập phòng thủ chống biệt kích đổ bộ.. Quần quật suốt cả mùa đông năm 1972 còn chịu được huống gì đoạn đường từ đây ra ngoài tỉnh, với đoạn xe hỏa vào Nam khi nước nhà đã hòa bình thống nhất. Cô vừa trả lời vừa đậy chiếc nắp ba-lô lên túi hồ sơ của anh Hưu có ghi địa chỉ đơn vị với nét chữ lớn viết bằng mực tím: 271003 TB 04. Thật ra chị muốn nói thêm với bà mẹ về lá thư của anh Hưu với nội dung mà chị đã thuộc lòng: “Vấn đề bồi dưỡng tại chiến trường lúc nầy đã tiến bộ, không còn thiếu thốn như thời gian di chuyển nữa.. Áp là thư em vào ngực, anh đọc đã mấy chục lần.. Có thể nói từ khi anh và em bắt tay xây dựng vợ chồng thì hai chủ nhật đầu tiên từ ngày anh ra đi là hai chủ nhật khó khăn và nặng nề khó vượt qua lắm. Trong những giờ phút đó anh muốn hét thật to để làm sao ôn lại cho em những lời nói của anh.. Anh đã bước đi như một con người không có tri giác.. Em đã nằm giữa trái tim anh, dòng máu anh đã cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù ở phương trời nào em vẫn luôn có mặt với anh..” Lá thư viết từ một ngày đầu năm 1972 tại một nơi mà anh Hưu chỉ ghi tắt là QT và chị nhận được sau ngày giải phóng Quảng Trị trong tháng 4 năm 1973 cùng lần với giấy báo tử mà chị đã dấu kín không muốn cho bà mẹ hay. Và nay đã đến lúc chị phải đi tìm bởi lời nói của anh Hưu mà chị nghĩ là chân thành thắm thiết nhất: “.. Cho dù ở phương trời nào em vẫn luôn có mặt với anh” Phải, chị Hàn luôn có mặt với chồng cho dù đã bao lâu không thấy mặt, hay cách biệt bao xa kể cả từ, sau, bởi cái chết mà riêng chị âm thầm chịu đựng bao năm qua. Chị xốc ba-lô lên vai, cột túi cơm khô quanh bụng, cúi xuống rút chặt quai dép lốp, đội lên đầu chiếc nón cối cứng.. Xong, con đi đây! Con đi tìm chồng con, bộ đội Lê Văn Hưu. U ở nhà yên tâm. Chị Hàn bước ra khỏi nhà, xuống con dốc lần theo sông Mã đi ra đường 119 với cảm ứng: “Đi gặp mặt chồng”. Chị không hề có cảm giác anh Hưu đã chết dù tờ giấy báo tử kẹp chặt với lá thư ép trong túi ni-lông đeo trước ngực. Trước khi lên con lộ chính, Hàn băng qua khu ruộng ngô mà anh Hưu đã cuốc vỡ đất trước lần đi nghĩa vụ quân sự. Khu ruộng ngô mà chị và chồng đã gieo những hạt giống của mùa đầu tiên, nơi hai người đã một thời vui đùa trong tuổi trẻ đã quá xa tưởng như một điều không thực. Tuy nhiên chị lại nhớ rất rõ những câu nói bâng quơ, cách trầm giọng làm ra vẻ quan trọng của anh Hưu, tiếng cười khúc khích của hai người giữa những luống lá dày xanh xám khi cây ngô lớn quá đầu người. Những sự việc tưởng như vừa xẩy ra, đang tiếp diễn khiến chị Hàn nhớ rõ mùi vị hạt ngô đầu mùa nướng lửa ngọn đốt từ đống lá vun trên đất. Mạch đất từng làm chứng tình yêu của hai người sáng nay trong nắng cuối xuân ươn ướt lớp sương mai gây trong lòng chị mối cảm xúc bất chợt đưa đẩy trí nhớ về lại hạnh phúc của một thời. Hoá ra hạnh phúc của hai người cũng mong manh và nhạt nhòa như lớp sương sớm đang khô dần trên đất dưới ánh nắng. Thật ra chị Hàn chưa đến tuổi ba-mươi.

Sau ba ngày với những chuyến tàu lửa chợ ngừng lại tại nhiều ga xép, những chuyến xe hàng chen chúc, ngột ngạt, kể cả những đoạn đường thăm thẳm lầm lũi cuốc bộ, cuối cùng chị Hàn bước lên chiếc cầu sắt đi vào thị xã Quảng Trị với cảm giác thản nhiên lạnh loẽ của người đã kiệt sức cùng đường. Cảm giác hiện thực khi chị hỏi đường đến văn phòng tỉnh đội và được người dân chỉ lên những khối gạch đá đứng chơ vơ bên bờ sông cạn đáy phơi bãi cát loang nắng.. Đó..đó..Cổ thành đó!! Và chị bật lên tiếng kêu không ngờ…Trời đất ơi!! bởi đang biết rõ một điều: Anh Hưu chồng chị đã thật chết nơi những đống gạch đá tan vỡ nầy. Chị Hàn đi vào văn phòng Ban Quân Sự Tỉnh Quảng Trị với cách quyết liệt của người chấp nhận cái chết đang chực sẵn.. Các đồng chí có thể cho tôi biết mộ của các liệt sĩ trong vùng nầy bố trí ở đâu, và có thể cho xin biết danh sách bộ đội liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh năm 1972. Đây là giấy báo lần chồng tôi hy sinh, anh ấy là trung đội phó trinh sát thuộc Trung Đoàn 48B, sư 320B quân đội nhân dân. Viên thượng úy thường vụ tỉnh đội tiếp nhận tờ giấy, đọc qua với cách lơ đãng, xong đưa lại cho chị Hàn, trả lời với vẻ miễn cưỡng dẫu cố che dấu: “Tỉnh đội cũng như các đồng chí lãnh đạo trong ủy ban nhân dân tỉnh và nhân dân Quảng Trị đời đời nhớ ơn công lao của các anh hùng liệt sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và bộ đội nhân dân anh hùng đã giải phóng Quảng Trị thoát khỏi ách chiếm đóng của bọn Mỹ-Ngụy..” Nói đến đây, viên thượng úy khẻ liếc nhìn người đàn bà đang ngồi xỗm trên mặt đất theo dõi câu chuyện của chị Hàn. Viên thượng uý nói tiếp: “Nhưng, như chị đã thấy, bọn ngụy ác ôn sau khi rút khỏi Quảng Trị đã phá hủy tất cả nhà cửa dân chúng cũng như cơ sở của bộ đội cách mạng.. Bọn chúng cũng cố tình tiêu hủy tất cả hài cốt của chiến sĩ ta.. Nên.. nên.. sau giải phóng (ý nói sau năm 1975), chúng tôi chỉ tập trung được hài cốt của những chiến sĩ thuộc địa phương Quảng Trị mà thôi, còn những người đã hy sinh trong những trận đánh với bọn quân Ngụy năm 1972, 73 thì không cách nào để thu nhặt.. Chúng tôi chỉ còn cách là chôn tất cả vào một mộ tập thể và di dời ra ngoài La Vang.” Đến đây hình như viên thượng úy đã tìm ra được một cách thức giải quyết vấn đề khó khăm đang gặp phải, y xoay qua người đàn bà đang ngồi dưới đất nói với giọng hả hê: “Đó tôi có dấu diếm chị gì đâu, đến như liệt sĩ bộ đội nhân dân chúng tôi còn không tìm được ra dấu tích, hài cốt huống gì chồng chị là lính Mỹ-Ngụy “trâu điên” ác ôn..” Viên thượng úy cộng sản định nói thêm điều gì nữa nhưng đột nhiên im bặt vì người đàn bà, cô giáo Thanh đứng bật dậy rắn rỏi dứt khoát: “Chồng tôi không là lính “Mỹ-Ngụy” mà là lính Tiểu Đoàn 18 Thủy Quân Lục Chiến, nhưng không phải là Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên”.. Chồng tôi lại là người ở đây, ở làng Công Giáo Tri Bưu, họ hàng chồng tôi nếu còn sống sẽ làm chứng là bên chồng tôi và anh Tâm tôi chưa hề ác ôn với ai ở đây hết.. Cha chồng tôi là thầy giáo cả đời dạy học ở tỉnh Quảng Trị nầy.” Cô giáo Thanh cao giọng khẳng định thêm một lần: “Chồng tôi là lính Thủy Quân Lục Chiến không là lính Mỹ-Ngụy.” Quả thật Thanh cũng không ngờ phản ứng bất chợt mạnh mẽ của mình. Nỗi oan hận, uất hờn từ bao năm bùng lên như một tia lửa. Viên thượng úy bực tức luống cuống.. Vệ binh, vệ binh đâu đưa chị nầy ra ngoài xử lý!! Những tên lính trẻ ùa vào vây quanh cô giáo Thanh.. Khẩn trương! Khẩn trương.. Đi ra!.. Đi ra!.. Âm giọng miền Nghệ An sắc nhọn, dữ dội, đe dọa. Chị Hàn dẫu chưa thấu hiểu hết nguyên nhân, diễn tiến câu chuyện nhưng vội vàng can thiệp.. Các đồng chí, các đồng chí cho tôi nói chuyện với chị nầy. Chị Hàn mau chóng nắm tay cô Thanh dẫn vội ra cửa. Sau phản ứng mạnh mẽ của một lúc bất ngờ tất cả năng lượng trong người hầu như tan biến, Thanh nhu thuận, lặng lẽ đi theo chị Hàn với bước chân không chủ đích. Ra khỏi văn phòng tỉnh đội, hai người ngồi xuống lề đường, trên mô đất lồi lõm. Thanh úp mặt vào gối, nói trong tiếng nấc nén xuống.. Chị ơi em khổ quá! Em đến đây đã mấy ngày rồi.. Hỏi ai cũng không biết! Họ hàng bên chồng em chết hết.. Chết đâu từ năm 68, 72 bởi đạn cộng sản.. Em đi khắp nơi trong Quảng Trị nầy.. Không ai biết. Không ai thấy.. Chị Hàn nhìn lên trời. Nhìn lên những khối đá gọi là Cổ Thành Quảng Trị.. Trong một động tác bất chợt, chị ngồi sát gần người đàn bà bên cạnh đang úp mặt dấu tiếng khóc. Chị muốn kêu lên tiếng tuyệt vọng. Anh Hưu ơi! Anh Hưu ơi! Chị cũng mong được bật lên tiếng khóc.

Từ Thị Xã Quảng Trị theo chỉ dẫn của người dân, hai người đàn bà đi về hướng Hạnh Hoa Thôn, qua ngã ba Long Hưng theo Quốc Lộ I đến khu nhà thờ La Vang. Hai người tới trước khối nhà thờ đỗ nát khi chiều đã xuống bên sườn núi phía Tây. Gió se lạnh thổi rờn rợn u uẩn. Nơi nầy là gì hở em? Hàn trầm giọng hỏi cô Thanh do không khí chung quanh quá tịch mịch thê lương. Nhà Thờ La Vang nơi Đức Mẹ hiện xuống chị ạ. Hàn muốn hỏi về Người Mẹ mà cô Thanh vừa kể đến, nhưng dẫu không biết rõ người ấy là ai, chị vẫn cảm nhận hình như có một điều ấm áp bình an khi đi theo cô Thanh đến trước bức tượng hình dạng một người nữ có nét mặt buồn đau. Mẹ đấy chị. Mẹ cũng khổ đau như chị em mình. Mẹ Khổ Đau vìcon người khổ đau. Cô Thanh quỳ trên đất, đầu cúi xuống ngực, thân hình bất động, im lặng sâu lắng thăm thẳm. Khi Thanh đứng dậy thì hình như đã là một người trút xong gánh nặng, cô thân mật nói cùng chị Hàn: Bây giờ mình không biết các anh ở đâu.. Anh của chị và anh của em. Chung quanh đây là mộ hoang chôn tập thể nhiều người.. Vậy chị một bên, em một bên, có bao nhiêu hương mình mình thắp cho kỳ hết.. Em biết, ngoài lính hai miền, nhiều người dân cũng đã chết khắp nơi đâu đây. Trong bóng chiều ngã vàng vùng đồi đá sỏi nhỏ màu đỏ như rây máu, bóng hai người đàn bà lướt thướt im lặng trên bụi lùm xao xác lay động dưới cơn gió cuối xuân thổi từ biển vào. Khi đã cắm hết hai bó nhang lớn, từ hai đầu cánh đồi đang khuất dần bóng nắng, cô Thanh và chị Hàn đi trở lại gặp nhau. Bóng hai người in đậm lên nền trời lặng lẽ như dạng hình tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Khối tượng đã tồn tại như một nhiệm mầu sau bao đợt lửa đạn do pháo nặng, hỏa tiễn từ hai bờ Nam-Bắc sông Thạch Hãn bắn tập trung, từ biển khơi dội vào, từ máy bay trút xuống suốt năm 1972. Trên đất khổ La Vang chiều tháng 4 năm 1976 có hai người đàn bà tồn tại như một điều thường hằng sau cuộc chiến dài hơn trí nhớ theo cùng vận mệnh của một dân tộc lầm than.

Sau khi chia tay ở ga Quảng Trị, cô giáo Thanh và chị Hàn hứa với nhau sẽ trở lại trong mùa Lễ Thanh Minh năm tới. Dịp tìm kiếm và đắp điếm mồ người chết, cũng vào ngày tháng Tư sụp vỡ miền Nam.

Phan Nhật Nam

Ngày trở thành Người Lính năm mươi năm trước
15 Feb 2018

Bâng khuâng nhớ Huế


(Thân tặng Kinghawk Nguyễn Xuân Hiếu )

.. Tôi và Anh xa nhau hình như hơn ba mươi tám năm, từ lúc anh rời PĐ 239 sang PĐ mới thành lập 253, còn tôi trụ lại đó đến đầu năm 1975 cũng đổi về vùng III CT. Sau ngày 30.4.75 định mệnh, nghe nói anh đi học cải tạo rồi đưa gia đình về quê ở Ninh Hòa. Tôi cũng về làm nông dân ở Mỹ Tho. Rồi cùng trải qua những thời kỳ khó khăn của những năm ngập lụt, thiếu ăn. Anh đi theo diện HO từ năm nào tôi cũng không biết. Tôi thì suốt ngày quần quật với ruộng vườn,chưa bao giờ gặp lại.

Nhưng mổi lần nghe ai đó nói về Huế, hoặc nghe giọng hát Nam Bình văng vẳng từ đâu đó, tôi lại nghỉ về anh, bởi trong ký ức của tôi luôn nhớ đến anh cùng những kỹ niệm về một thời trai trẻ của mình .

Tháng 12 năm 1970, khóa 2CP của tôi tốt nghiêp ra trường sau sáu tháng học chuyên môn và phi huấn. Lúc chúng tôi vác sắc-ma-ranh tới Đà Nẳng ký “Ski” thì cũng là lúc khóa hoa tiêu của anh vừa từ căn cứ Blackcat về sau đợt bay thực tập. Điễm đến của chúng tôi là PĐ 233 tân lập, nhưng lúc đó cái tên PĐ 233 chỉ có trên giấy tờ, cơ sở không, máy bay cũng không nên tất cả được điều đi hành quân chung với PĐ kỳ cựu 213.
Và những hoa tiêu, CP mới toanh từ trường huấn luyện về đã được tung ra thử lửa ngay trong chiến dịch LS719 hạ Lào.

Tuy có cấp bậc, chức vụ rõ ràng nhưng chúng tôi đối xử với nhau như là anh em, bởi số tuổi sàn sàn nhau: mười chín,đôi mươi .
Còn khoảng cách tri thức lại chỉ cách nhau bằng một cái bằng Tú Tài .

o0o

Khóa 5/69CP của tôi khi là tân binh phần lớn là những thằng thi rớt Tú Tài 1, một số ít có Tú tài 1 nhưng lại sợ đi bộ binh nên “trốn “vào KQ cho chắc ăn. Nhưng không ngờ HSQ/CP là chỉ số tác chiến nên ra trường không bao lâu đã rơi rụng khá nhiều. Rồi cũng có đến quá nữa quay trở lại quân trường làm SVSQ. Nhiều đứa đến cuối năm 1974 trở lại chiến trường và ngồi ghế Pilot. Cũng có thằng bụi đời hơn bỏ hẳn nghành bay, đến lúc tan hàng đã mang cấp bậc Tr/u BK dù.
Với tính cách phong nhã của binh chủng KQ, chúng tôi đã nhanh chóng trở thành một gia đình mới, sống gắn bó ở tuyến đầu .

Lam Sơn 719 chính là cuộc thử lửa đầu tiên của chúng tôi lúc bắt đầu binh nghiệp.Từ Đà Nẳng, các phi đội UH được biệt phái đến Đông Hà –Quảng Trị để hàng ngày bay vào trực chiến tại BTL chiến dịch đóng ở thung lũng Khe Sanh. Thời tiết Đông Hà năm ấy khá khắc nghiệt, nhiệt độ ban đêm xuống đến dưới 10 độ. Sáng sớm thức dậy, các “công tử bột “ như chúng tôi không dám đánh răng vì nước lạnh buốt. May sao các đợt biệt phái của tôi đều có Tây-một người bạn Xạ thủ đi cùng tốt bụng sáng nào cũng nấu sẳn nước sôi cho tôi rửa mặt . Anh gốc bộ binh sang nên rất chịu khó và tôn trọng cấp bậc quân đội. Chưa bao giờ tôi nghe anh phàn nàn gì về chổ ở hay miếng ăn. Anh nói với tôi:- bây giờ được ở KQ là sung sướng nhất rồi.

Từ Đông Hà vào Khe Sanh phải đi theo QL9 dài đến 70km. Đường đi ngoằn ngòeo dọc theo bờ suối khá đẹp. Đoạn suối rộng nhất là Dakrông, qua Kà lu, sau đó là vượt đèo Rào Quán. Trước khi đến Khe Sanh, khách lữ hành sẽ bắt gặp sân bay Tà Cơn nằm bên bờ vực bên phải .

Khe Sanh trước đây vốn là một làng dân tộc thiểu số gốc Vân Kiều, nhưng thu hút được người Kinh đến sinh sống là nhờ có đồn điền cà phê của Pháp. Lúc chiến dịch LS719 diển ra thì các đồn điền đã bị bỏ hoang từ lâu.

Thực ra lực lượng KQ chính yễm trợ chiến dịch là USAF, với các đại đội trực thăng đóng ở sân bay Ái Tử và Non Nước, còn phản lực hầu hết đều ở Đà Nẳng. Trực thăng của SĐ1KQ chỉ là phụ, làm các việc như tiếp tế, tải thương từ vùng biên giới Việt-Lào trở lại. Ấy vậy mà ngay từ những ngày đầu đã bị bắn rơi hai chiếc khi làm nhiệm vụ tiếp tế cho một tiểu đòan BĐQ đã được thọc sâu vào vùng đất Savanakhet-Lào .

Bay Số 1 và 4 của phi đội hôm đó là Pilot 213, số 2 và 3 là hai cặp Pilot 239, là những chàng phi công Blackcat như Trình, Đạt..và nhóm CP 569 có Ánh, Tiêm và tôi. Phi vụ hôm đó có hai phi hành đòan đi mãi mãi không về.Trên tàu có cả một số phóng viên chiến trường của một số hảng thông tấn Mỹ .

Tôi nhớ trưa hôm đó cũng là ngày đầu tiên trong cuộc đời binh nghiệp tôi được gọi trỉnh diện một tướng 3 sao ngay tại mặt trận . Số là sau khi phi đội gặp nạn, Leader bị bắn rơi, hai chiếc UH còn lại buộc phải giảm cao độ đột ngột để chạy thoát về Khe Sanh. Nhưng khi đến Khe Sanh thì lại đáp ở hai nơi :-số 3-PHĐ của tôi ngay pad A1, còn số 2 lại đáp ở BTL Dù. Đồi A1 là hầm chỉ huy của Tướng TL, sau khi nghe tin dữ, ông đã cho gọi ngay PHĐ chúng tôi vào trình diện nhưng vẫn không tin đó là sự thật bởi mới vừa rồi ông còn gặp gở các phóng viên nước ngoài trước khi máy bay cất cánh .
Trong cơn giận dữ của tướng 3 sao, may mắn cho chúng tôi là đã sớm thóat được ra ngòai trước khi ông cho PHĐ mỗi người một cái “đá chết mẹ” !

Chiến dịch LS719 sau đó cũng kết thúc. Các nhà quân sự có nhiều đánh giá khác nhau về kết quả. Có người khi được nhắc đến luôn cố tình lảng tránh. Riêng Tướng TL 3 sao, sau chiến dịch chúng tôi không còn nghe nhắc đến hay gặp lại ở Vùng I lần nào nữa..

Chúng tôi tạm rời vùng nóng bỏng một thời gian. Rồi PĐ 233 cũng có cơ ngơi, được giao nhiệm vụ chính là hổ trợ hành quân khu vực phía nam đèo Hải Vân đến Sa Hùynh. Tuy nhiên thỉnh thỏang chúng tôi cử đi Huế tăng cường cho TK TT hoặc là những phi vụ liên lạc kỹ thuật.
Anh và tôi thường đi chung với nhau trong những phi vụ nầy .
Sáng sớm Đà Nẳng, trưa Huế, chiều tối lại Đà Nẳng . Đi về trong ngày nhưng vẫn có đủ thời gian để chúng tôi lang thang trước cổng trường Đồng Khánh hay vào quán cà phê nghe nhạc Trịnh .

Tuổi thanh niên chúng tôi sau đó lại tiếp tục lao vào vòng xóay của cuộc chiến, nhưng với tôi đó là thời kỳ trẻ trai hào hùng và thơ mộng nhất .

o0o

Tôi không nghỉ là có một ngày nào đó mình sẽ được đặt chân lên đất Mỹ vì bản thân không có chút điều kiện khả thi nào .
Ấy vậy mà đến thật. Lần đầu là ở Atlanta, lần hai khá hơn đi một loạt qua các bang Mexico, California và Washington State. Nó như là một cuộc hành trình “đi tìm đồng đội” của mình .
Lần nầy trở lại Atlanta, rồi nghe lời rủ rê của thắng cháu đi thăm Boston, nhưng thực tế là muốn xem đời sống của đứa cháu ra sao .

Sỉ-cháu tôi sống ở Boston đã gần 20 năm. Người VN thường nghe nói đến Boston như là một thành phố lớn, phồn thịnh của nứơc Mỹ. Nhưng khi đón tôi ở sân bay về, vượt qua trung tâm thành phố rồi đi qua nhiều cánh rừng đến gần một giờ đồng hồ thì tôi mới biết là nhà cháu Sỉ ở tận một vùng thung lủng xa lắc xa lơ.
Đó là thị trấn nhỏ Fitchburg cách Boston đúng 60 dặm về hướng Đông.
Đường xa, nhà thưa, lại trời mưa phùn, gío lạnh; khách mới tới vùng nầy sẽ có một cảm giác giống như bắt gặp mưa phùn ở Huế mùa Đông. Lở một cô dâu nào đó mới được rước từ VN sang chắc phải nảo lòng .
Tôi thì không ở vào tâm trạng ấy nhưng vẫn cảm thấy “ôi sao mà buồn vậy!”

Thị trấn quá nhỏ, đi lòng vòng có vài con đường, chỉ nổi bật được vài ngôi nhà thờ nên gia đình cháu Sỉ phải thường xuyên lái xe qua thành phố bên cạnh để mua sắm thức ăn, đồ dùng .

Nhà cháu có bốn người, hai vợ chồng là trụ cột gia đình, đều đi làm ca sáng nên 6g đã rời nhà. Cô cháu dâu cũng khá đảm đang ,mỗi tối thường nấu nướng sẳn thức ăn để sáng ông chú thức dậy ăn sáng và ăn trưa. Buổi chiều thì 5g cả hai đều cùng về nên có thể ăm cơm chung .Có điều là ông chú đến thăm thì tiếp tục ”tử thủ” ở buồng riêng do đứa cháu gọi bằng Ông nhường lại. Đôi lúc nhìn thằng cháu quấn mền nằm chèo queo trên salông phòng khách thấy cũng ngài ngại, nhưng phải chấp nhận vì không lẻ “ Ông “phải thế chổ thằng cháu kia nằm ngáy khò khò ở phòng khách coi không được tí nào.


Cộng đồng dân cư Việt Nam tại thị trấn Fitchburg phần đông là người miền Tây, đến sinh sống tại đây từ những năm đầu thập niên 80.Tuy đến và ở lại chỉ vài hôm nhưng tôi cũng tìm hiểu được vài nét sinh hoạt của cư dân Việt. Họ sinh hoạt từng nhóm nhỏ theo mối quan hệ gia đình, thân thuộc và hàng xóm của nhau từ thời ở quê nhà. Cháu Sỉ một mình tha hương đến đây, gặp vợ người Bến Tre, sinh con và ở lại cho đến ngày hôm nay.
Khi tôi đến thì cả hai vợ chồng cháu đều đi làm ca sáng. Sỉ cho hay cháu sắp thất nghiệp vì Xí nghiệp di chuyển về nơi khác, hiện đang thu dọn máy móc. Nhưng cháu lại nằm trong nhóm cuối cùng thu dọn nên phải làm thêm cho xong việc mới được nghỉ. Ở Mỹ bị thất nghiệp cũng không lo lắm vì có trợ cấp thất nghiệp do xí nghiệp trả, tháng cũng 6,700 đô. Thời gian có thể kéo dài đến khi mình tìm được việc làm mới . Chính vì thế mà người Việt hay đi làm chui để lấy tiền mặt thêm chi dùng cho gia đình.

Người Việt sống ở Mỹ mà thấy người Việt từ quê nhà sang chơi hay du lịch cầm xấp tiền 100 đô trên tay hẳn là thèm thuồng lắm. Vì tất cả chi phí, thu nhập đều được tính bằng thẻ. Ở Mỹ muốn mua cái gì cũng được, cứ cà thẻ là xong. Nhưng cúôi tháng cái “bill” chạy về thì le lưởi. Phải ký “séc” trả. Mua ngôi nhà xinh xắn, sang trọng vài ba trăm ngàn đô có ngân hàng lo, chỉ cần trả trước từ một ít, số còn lại trả góp 5,10,20 năm, nhưng có khi phải “trả cả đời ! ”.

Sỉ xem người cậu vợ như cha vì cậu nuôi Phụng-vợ Sỉ từ nhỏ. Khi sang đây Phụng theo cậu rồi được cậu gả chồng . Vừa là cha vợ vừa là bạn nhậu nên hai cha con tỏ ra thân thiết nhau lắm. Thấy tôi đến thăm mà vợ chồng Sỉ không nghỉ phép được nên cậu cũng lo. Buổi chiều khi Sỉ về thì cậu cũng vừa về, ghé lại nhà cháu rể thăm tôi, trò chuyện, hỏi han sợ tôi buồn. Rồi thêm mấy người cháu, hai anh bạn cùng quê..nên chiều nào nhà cháu Sỉ cũng trở nên đông vui đến tối.
Nói là trò chuyện nhưng đúng ra là tâm sự với nhau bằng bia. Tửu lượng nhà vợ cháu Sỉ cũng khá, mỗi người ít nhất là ba,bốn chai. Nhưng hay một điều là cứ đến khỏang 21g là dừng. Ai cũng cáo từ về nghỉ để sáng đi làm sớm, không như bạn nhậu ở Việt Nam hay có câu “ xả láng sáng về sớm” .
Người Việt ở Mỹ rât quí việc làm. Bởi có đi làm mới chi phí đầy đủ cho gia đình, khi về hưu mới hưởng được chế độ trợ cấp xã hội. Người nào đi làm nhận tiền mặt có khi nhiều hơn, thực tế hơn nhưng sẽ không có tương lai khi về già.

Vậy mà cũng có nhiều chàng Việt kiều thất nghiệp, về Việt Nam nổ như pháo Gò Vấp “Tui làm kỷ sư nầy, chuyên viên nọ, được nghỉ phép về chơi “ . Phép gì mà ngao du hàng mấy tháng trời không sợ bị xí nghiệp đuổi ( có xí nghiệp đâu mà đuổi ) ..! Rồi xài hết tiền, mượn nợ.. Có khi dụ được một em thơm, hám mác Việt kiều, bao bọc ăn ở còn cho tiền mua vé máy bay về Mỹ với hy vọng anh sẽ bảo lảnh sớm qua xứ thần tiên. Nhiều gia đình ở Việt Nam cũng ôm hận mất cả chì lẩn chài vì cái mác “Việt kiều nổ “ ấy .

o0o

Ở Mỹ, con là con mình từ nhỏ đến 18 tuổi. Có gia đình có con vừa đúng 18 là xách gói ra ở riêng không ngó ngàng gì đến Cha Mẹ nữa! Anh Tám-cậu vợ Sỉ nói với tôi như vậy khi nhận định về con cái người Việt ở Mỹ. Do lớn lên ở đất Mỹ, sống quen theo lối sống Mỹ, chúng có tư tưởng không muốn lệ thuộc gia đình. Nhiều gia đình đông con nhưng rồi đứa trước, đứa sau cũng nối gót ra đi bỏ lại hai “con khỉ già “ sáng tối nhìn nhau mà gây gổ.
Chính vì thế, nhiều ông bà khi sắp đến tuổi về hưu đã sắp sẳn kế hoạch hồi hương về Việt Nam sống để có tình nghĩa xóm làng.
Đối với đời sống sinh hoạt ở Việt Nam thì với số lương hưu của hai người chừng một ngàn đô là khỏe. Nhưng làm sao nở bỏ con cái mà về. Con cái bỏ cha mẹ thì có chớ có bao giờ Cha Me lại bỏ con !

o0o

Tôi gặp anh Xuân Hiếu, người bạn cũ tại Boston là điều khá bất ngờ. Có thể nói đã hơn 38 năm. Tình cờ có được địa chỉ của anh với mã vùng bên cạnh nhà cháu Sỉ. Cháu Sỉ sốt sắng tìm đường và điện thoại hẹn cho tôi gặp ngay tối hôm tôi mới đến Fitchburg. Thời trai trẻ cả hai chúng tôi đều có “nick name “ riêng nên nhân diện nhau qua điện thoại một cách nhanh chóng .

Đường xa lộ thì dể, nhưng đường vào khu phố thì chưa rành nên hai chú cháu tôi phải dừng lại bên ngòai chờ anh ra đón .
Tôi nhận ra ngay anh từ bên kia đường. Vẫn cái dáng khòm khòm, vẫn bộ râu rậm đậm chất KQ. Chỉ có điều là già dặn và phong trần hơn .

Gặp lại anh, tôi bổng nhớ lại thời kỳ chiến tranh VN bắt đầu nóng bỏng nhất.Với anh, tôi đã cùng sống trong những giờ phút nguy hiễm nhất ở Khe Sanh, rồi Ba Tơ, Gia Vực.. ( Quảng Ngãi) ..nhưng cũng có những thời gian lản mạn, trử tình bên bờ Hương giang thơ mộng.

Tôi mãi nhớ thời trai trẻ ấy ở Huế. Nhớ cổng trường Đồng Khánh, nhớ đường Lê Lợi -con đường đã đi vào thơ ca với “Em tan trường về đường mưa nho nhỏ… Tóc dài tà áo vờn bay….”

Và ở đó tôi đã chứng kiến từ đầu mối tình đẹp của anh và chị P, cô nữ sinh ĐK ngày xưa và là vợ anh ngày nay.


Anh XH cũng chuẩn bị bia và nướng sẳn hai con khô mực để đón tôi ( tưởng tôi là bợm nhậu chắc !).Chúng tôi ôm lấy nhau cùng cảm động. Tôi hỏi sao có mình anh đi lạc tới đây ? Anh cười :-thì nó đưa mình đi đâu mình đi đó. Mà đúng thật, cùng đơn vị với tôi phần lớn các bạn định cư ở Cali, Texsas hay Seattle thì anh lại ở Boston. Không phải Boston phố mà là Boston rừng .

Ngày xưa lúc đi làm ở Huế tôi và anh cùng thích bài thơ “Đưa em tìm động hoa vàng “ của Phạm Thiên Thư. Có lẻ vì vậy mà khi đến Mỹ anh lại chọn chốn “khỉ ho cò gáy “ nầy mà dung thân.

Trước khi đến nhà anh, tôi đã biết tin chị Phượng không được khỏe nhiều năm nay. Nhưng khi nhìn thấy chị khó nhọc lăn xe lăn từ phòng trong ra chào tôi bổng thấy xót xa làm sao ! Chị bị liệt một bên người, và lệch một phần mặt sau một cơn tai biến bất ngờ. Từ đó việc đi lại phải bằng xe lăn, nói năng cũng hạn chế. Mọi việc chăm sóc gia đình,con cái đều do một tay anh đảm đang.
Các con anh đều lớn cả..Mấy đứa đầu đã có gia đình, mấy đứa sau cũng ra riêng. Khi tôi đến căn nhà trống vắng mênh mông .
Ở anh, tôi thấy tóat ra được sự nhẩn nại, thủy chung, có tình có nghĩa với mối tình thơ mộng cũ mà anh chị mang theo từ đất Thần kinh, từ thời “em tan trường về ..anh theo Ph về ..”
“Thời oanh liệt nay còn đâu!” , với anh chỉ còn lại bóng dáng của một người Việt lẻ loi nơi đất khách quê người.

Tôi và anh lại chia tay. Mưa tầm tả suốt đường về Ficthburg . Qua màn mưa, tôi bổng thấy lòng mình như chùng lại và bâng khuâng nhớ Huế ,/,

…………………….
CAO NGUYÊN
Boston T4/2011
15 Feb 2018

50 năm từ Tết Mậu Thân đến Mậu Tuất


Vào những ngày chuẩn bị đón năm mới này, một lần nữa dư luận lại dậy sóng vì câu chuyện của 50 năm trước, biến cố Mậu Thân 1968.

Vào tuổi 81, một nhân vật gắn liền với sự kiện gây nhiều tranh cãi này, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường chính thức lên tiếng về sự liên quan của mình trong cuộc thảm sát đau thương ở Huế, khiến hàng ngàn người chết.


Theo lá thư ông Tường viết, ông xác nhận không có mặt ở Huế trong cuộc "Tổng tiến công và nổi dậy", nhưng thừa nhận mình đã nói dối như một nhân chứng. Và kẻ làm chứng gian này xin được tha thứ vì lỗi lầm đáng xấu hổ ấy.

Vì sao mỗi năm đến Tết lại bị hỏi?


Vào khoảng năm 2002, nhân dịp tham dự Festival Huế, tôi đã đến nhà ông Tường và làm cuộc phỏng vấn ông cho một tập sách về một số nhân vật trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật, do nhiếp ảnh gia Dương Minh Long tổ chức thực hiện (đến nay cuốn sách này vẫn chưa in).


Người dân Huế trở về nhà sau giao tranh tháng 1-2 năm 1968

Điều tôi muốn biết nhất về Hoàng Phủ Ngọc Tường là vai trò của ông như thế nào trong tết Mậu Thân ở Huế.

Và tôi đã hỏi. Với sự tức giận, mất bình tĩnh, ông đã gay gắt:

"Tại sao cứ mỗi dịp lễ lạc hay Tết nhất, người ta lại mang tôi ra chửi?"

Rồi ông cho tôi biết, ông không có mặt ở Huế tết năm đó. Tôi tin ông. Sau này, tôi cũng hỏi một người bạn, vốn là một đội trưởng trong ba đội Thanh Niên Tuyên Truyền do Thành ủy Huế thành lập, xác nhận ông Tường không về Huế.

Giờ đây, mặc dù ông Tường đã "tự thú", nhưng dường như dư luận vẫn không tha thứ cho ông.

"Dư luận" có ác không? Và ông có đáng được tha thứ không?

Dù thế nào, một lần nữa, chúng ta lại chứng kiến sự chia rẽ sâu sắc giữa những người Việt.

Có lẽ, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và một số bạn bè ông đã tự biến thành vật tế thần cho nỗi oán thù chồng chất, từ quá khứ đến hiện tại, qua những phát biểu đầy chất tuyên giáo của ông, trong khi kẻ đích thực gây ra cuộc thảm sát Mậu Thân vẫn im lặng.

Lịch sử Việt Nam có hai lần bị chia cắt. Lần một, khoảng từ 1600 - 1777 giữa hai thế lực của hai dòng họ, Trịnh ở phía Bắc và Nguyễn ở phía Nam, phân cách qua sông Gianh.

Lần hai, 1954 - 1975 giữa hai thế lực cầm quyền theo đuổi lý tưởng độc tài Cộng sản và lý tưởng tư bản tự do, phân chia theo dòng Bến Hải.

Dù nhân danh chính nghĩa nào, thực chất các cuộc chiến tranh đều được dẫn dắt bởi những tham vọng chính trị cá nhân hay tập đoàn.

Cả hai giai đoạn lịch sử ấy đều để lại nhiều đau thương, mất mát. Nhưng trải nghiệm lịch sử không làm người Việt Nam khôn ngoan hơn.

Không thể phủ nhận khát vọng thống nhất là chính đáng, nhưng chiến tranh không phải là giải pháp duy nhất.

Tinh thần anh em ở đâu?

Cho đến nay đã không ít tài liệu cho chúng ta thấy, người Việt Nam đã tự chọn vai trò làm xung kích cho các thế lực quốc tế, thay vì ngồi lại với nhau trong tinh thần anh em.

https://baomai.blogspot.com/
Quân đội Mỹ chơi bóng tại một căn cứ ở Nam Việt Nam thời chiến. Câu hỏi ngày nay là quân đội nước ngoài đã rút đi nhưng người Việt có 'ngồi xuống nói chuyện như anh em' hay vẫn là bên thắng bên thua

Đất nước đã thống nhất trên 40 năm, nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận, sự chia rẽ giữa những con người Việt Nam càng ngày càng sâu. Điều này, trách nhiệm của nhà cầm quyền, những người chiến thắng, không hề nhỏ.

Dưới mắt của những người thuộc bên còn lại, nhà cầm quyền chưa bao giờ làm điều gì thực tâm để xóa bỏ hận thù, khi hàng năm họ vẫn ăn mừng chiến thắng rầm rộ và vẫn tiếp tục đón nhận "chiến lợi phẩm" hàng chục tỉ đô la qua kiều hối.

Những người bày tỏ bất đồng chính kiến vẫn bị trấn áp và bỏ tù.

Tất cả những ai ưu tư về vận mệnh quốc gia đều không khỏi lo lắng về hiểm họa Hán hóa. Nhưng tất cả những ai yêu nước không đúng đường lối Đảng CS đều là đối tượng "phản động".

Chủ nghĩa Cộng sản đã phá sản trên toàn thế giới, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ nhìn nhận sai lầm của mình trong việc thực hiện chủ nghĩa ấy cũng như hệ lụy của nó trong cuộc chiến tranh vừa qua.

Quả thật, chỉ có mơ mới nghĩ nhà cầm quyền đủ dũng cảm và sáng suốt công nhận sai lầm.

Nhưng nếu không nhìn nhận sai lầm để bắt đầu lại, hàn gắn vết thương chiến tranh, nối lại lòng người… thì cũng không có cách nào khác để hòa giải, xóa bỏ hận thù.

Ở góc độ từng cá nhân, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng như những người bị nêu tên khác đã làm gì sau trách nhiệm quá khứ của họ?

Câu trả lời chỉ có thể đến từ chính họ.

Trong phạm vi nhỏ những người tôi quen biết, tạm gọi trí thức, dường như tôi cũng không nhìn thấy sự áy náy lương tâm nào.

Họ vẫn coi quá khứ của họ trong cuộc chiến vừa qua là một cuộc trường chinh hào hùng như một tất yếu của thời thế.

Lịch sử cần được soi sáng không chỉ bằng sự thật mà còn cần cả lương tri. Không nhìn thấy sai lầm, không thể tránh tiếp tục lầm lạc.

Sưu tầm
24 Jan 2018

Người lính vẫn sống sau trận lửa


Kết thúc với Tháng Tư,

Sự Chết hiện thực sắc nét, có hình khối, với âm động, mùi vị riêng biệt của Saigon. Với Saigon. Cảnh Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37..... do tên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi nhanh xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Ðạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngỏ tháo chạy của Saigon đóng sập lạị . Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hoả ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn CS từ Ðồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Ðịnh bắt đầu đỗ xuống không ngắt nhịp.. Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác bay đến các mục tiêu đã được phái đoàn CS trong Ban Liên Hợp Quân Sự điều nghiên kỹ từ 28 tháng 1, 1973. Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn.

Cuộc hành hình kéo dài từ 4 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO (Văn phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ), ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống.. Ðống hành lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc "Năm Trăm Trần Hưng Ðạo" của Ngân Hàng Quốc Gia VN; giấy bạc Ðô-la của ngân khố My tất cả cùng trộn lẫn với thịt da, thân thể người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung toé dưới ánh lửa bập bung loang lỗ của kho xăng, đài kiểm báo, trại gia binh, nơi để máy bay hiện thực đầy đủ cảnh địa ngục vô vàn nơi trần thế - giữa Tân Sơn Nhất - Cửa ngỏ thoát hiểm của Saigon hoàn tất đóng chặt. Những viên tướng đã ra đi, những sĩ quan cấp tá cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị, nhưng, Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành còn lạị Thành (có biệt hiệu "Thành Mọi" bởi nước da ngâm đen quá độ) ra chỗ đậu tàu, anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất.

Từ trên cao, thấy rõ những vị trí pháo của binh đội CS.. Thành nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầỵ Phải chỉ một mình anh - Trung úy Nguyễn Văn Thành, "Thành Mọi - Thành Thiếu Sinh Quân". Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàụ Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửạ Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt.. Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian.

Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành giựt. Ðám đông chạy về phía Building Brink, khu Ðồn Ðất, nhà thương Grall, nơi có cơ sở Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đị Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rọ Có người tự tự Có người mới bắn chết. Aỉ Lính, không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình.

Ở đâủ Ở ngoài, chỗ tượng Thủy quân lục chiến.. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩ! y đó trong giờ phút vỡ toang mối nối thời - không với những động tác, việc làm bất định, bất ngờ, vô nghĩa, vô ích. Anh kiểm soát lại số phim đang còn trong máy, trong túi, đi băng qua lối ngang trong thương xá, ra ngõ quán Thanh Vị, quẹo phải, men theo hàng hiên tiệm kem Ðô Chính. Súng nô Súng Aka và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Ðô Chính. Anh tiếp tục làm "nhiệm vụ", đưa máy hình lên.. Ðộng tác quen thuộc, thuần thục từ bao năm, anh và các bạn, những phóng viên chiến trường của báo chí miền Nam hằng thực hiện nơi những chốn sự chết, lửa đạn vây bủạ Ðồng một lúc anh chợt nhói đau - Ðây là lần cuối cùng. Ðây là giờ cuối cùng.

Hình như một nhân vật trong Doctor Zhivago cũng đã kêu lên như thệ Anh chỉ nhớ loáng thoáng bởi đang có cảm giác người cạn ly rượu hành quyết trước khi bị bịt mắt, dẫn đi bắn. Anh chạy theo đám lính CS với hai thanh niên cầm cờ đọ Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đọ Loại hàng may áo dàị Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nơi có Người Lính vừa chết. Anh cúi gập người, nôn khan. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Ðộc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long. Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác bàn chân quay vòng không chủ đích. Xe đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Ðũi, nơi các bạn anh hôm qua (nay đã trở thành xưa cũ) hằng vui vầy, sống động.. Ðịnh rẽ vào Yên Ðỗ về Phú Nhuận, nhưng không hiểu từ đâu thúc dục, anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa giòng âm động dồn dập như Saigon đang hồi tẫm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài của những người vừa chết. Giã từ Trần Công Hạnh, Tiểu Ðoàn 2 trước trại Nguyễn Trung Hiếu với cảm giác đây là lần cuối với bạn, kèm mặc cảm có lỗi khi hỏi Hạnh có ý định buông súng bỏ đi hay không.

Hạnh trả lời mệt nhọc nhưng kiên chắc: Anh hỏi tôi còn có thể đi đâu khi nguyên cả tiểu đoàn theo lệnh tôi đang tiếp tục chiến đấu! Anh vào cư xá Chí Hòa, chứng kiến lúc Chuẩn Tướng Hậu vất tung tấm bản đồ phòng thủ căn cứ với lời gầm phẫn uất: Ðồ chó đẻ!! khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Viên thiếu úy quen mặt nói với anh lời quyết liệt: "Em không đầu hàng, em với trung đội sẽ ra bến tàu, tiếp tục chiến đấụ" Thái, Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Ðường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàụ Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Ðằng, tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn.. VN Cộng Hoà Muôn Năm! Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam. Sau nầy, anh biết thêm, trên đường anh đi qua trưa 30 tháng Tư, 1975 - Ðường Bắc Hải, ngõ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước.

Thiếu Tá Ðặng Sĩ Vĩnh (em của Bà Hà Thượng Nhân, Trung Tá Phạm Xuân Ninh, niên trưởng của giới báo chí quân đội Miền Nam) Khoá 1 Nam Ðịnh là sĩ quan của ngành tình báo đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường giây quốc ngoạị Người con trai lớn của gia đình, Trung Úy Ðặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưụ Hai người cùng trao đổi đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng: "Tùy con, riêng bố đã quyết như đã nói với con từ trước" Trung Úy Vinh trả lời: "Nếu bố đã quyết như thế, con và các cháu cũng đồng lòng." Toàn gia đình uống chậm những liều thuốc độc cực mạnh đã chuẫn bị từ trước. Trung Úy Ðặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Ðại Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau VNCH Muôn Năm!

Tiếp theo Tháng Sáu,

Khi những giọt mưa đầu mùa Hè rơi xuống, từ trong thăm thẳm, xa xôi, tận cùng trí nhớ - qua âm mưa ray rứt của tháng Sáu - cũng dần thành hình lại Nỗi Ðau luôn hiện mới Nầy đây, lần tháng Sáu 1965, ngày vỡ trận Ðồng Xoài, bắt đầu từ những ngày sau 10, 11, nơi Nghĩa Trang Quân Ðội Gò Vấp, với hằng trăm, lên đến số ngàn xác chết của Tiểu Ðoàn 2/7 Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, Tiểu Ðoàn ! 52 Biệt Ðộng, và đơn vị thân thiết đầu đời, Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù, mà người chết không thể kiểm kê chính xác, chỉ biết lấy tổng số cơ hữu của đơn vị xong trừ cho đám người hiện có mặt.

Người sống sót ngồi nhìn nhau ngơ ngác, vô hồn ở sân cờ tiểu đoàn, đang là bãi hỗn mang chen chúc, gào kêu với những người vợ lính quấn dối vành khăn trắng xổ tung tưởi do những con nhỏ bấu víu khóc ngất.. Ba, ba ba đâu má ơi!! Anh lúc ấy chỉ là cậu thiếu úy tuổi vừa qua hai-mươi tuổi, nhìn trân vào mỗi người vợ, con của binh sĩ; tử trận (chung trung đội, đại đội anh) với cảm giác có tội - Tội sống sót khi người khác phải chết - Những người (chết) vô cùng cần thiết cho những đơn vị gia đình gồm người đàn bà tơi tả, hốt hoảng và những đứa trẻ quá nhỏ chưa có đủ ý niệm về cáichết của người cha Rồi, 22 tháng 6, 1975 đểụ chính bản thân anh có cảm giác như chết đi từng phần trong cơ thể, khi quấy xong bình sữa cho con, mang vội chiếc túi nhỏ với cảm giác tuyệt vọng: Lần đi nầy cùng đành như cơn tử biệt, bởi thấy rõ chiếc bẩy sự chết đang dần chụp xuống, chắc chắn siết cứng lạị Hh nói tiếng nhỏ thảm thiết: "Khổ quá, chắc em sống không nổi" khi đưa anh đến nơi trình diện đi tù, Trường Lê Văn Duyệt, Gia Ðịnh. Cả hai không thể ngờ ra kết thúc oan nghiệt với mười-bốn năm sau .

Tiếp năm 1976, đúng Ngày Quân Lực, 19 tháng 6, bước xống tàu Sông Hương ở Tân Cảng, góc cầu xa lộ Saigon- Biên Hoà, nhìn ra xa, thành phố xao xác ánh điện vàng đục, giòng nước sông cuồn cuộn lẫn màn đêm. Giữa cảnh sống thú vật, tệ hơn con thú với thế ngồi im không cử động, tiểu, đại tiện trên cùng một chỗ trong suốt hành trình hai ngày đêm đi ra "Miền Bắc xã hội chủ nghĩa", so với cái chết nơi giòng nước trong xanh của biển trời phương Nam, chắc chắn ngàn con người dưới những căn hầm tàu địa ngục nầy sẽ quyết định dễ dàng nếu như họ có quyền chọn lựa, Năm 1989, anh trở về với cảm giác đau xót nguyên vẹn của lần bị lăng nhục lâu dài mười-bốn năm trước.

Bước chân vào căn phòng nhà cũ với tủ sách trống vốc, lăn lóc nhàu nát cuốn tập con anh ! tập viết những giòng chữ đầu đời Con mình bây giờ ở đâu . Nhưng anh và những người bạn lính không thể để cuốn trôi, đánh sập bởi thống nhục thất trận, lưu đày biệt xứ trên quê hương - Người Lính không hề thất vọng cho dẫu đã toàn phần thất bạị Ðể tồn tại, tự cứu, anh phải tích chứa, lưu giữ trí nhớ, dậy nên từ tận sâu mỗi tế bào thần kinh nỗi xúc động vô vàn mãnh liệt của những tháng ngày lịch sử chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội chiến công: Ngày Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến trường Quảng Trị, Bồng Sơn, Kontum, An Lộc... hiện thực một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở của Người Lính - Bảo Quốc An Dân - Sứ Mệnh không hề nói thành lời nhưng được hiện thực với chính máu xương của những con người vô danh cao thượng mà Ðằng Phương, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy năm xưa đã viết nên những giòng máu lệ ngợi ca hùng tráng,

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước...

Phải, những Người Lính Vô Danh ấy vẫn tồn tại với mười, hai mươi, ba mươi năm dưới bom đạn cực độ, nơi những trại tùụ như "Cổng Trời Quyết Tiến", Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Thanh Phong, Thanh Cẩm, Lam Sơn hậu thân hệ thống trại giam Lý Bá Sơ Những địa danh trại tù có số lượng mộ chí gấp đôi, gấp ba lần tổng số tù hiện diện, và người sống sót cũng chỉ là những xác thân khô kiệt di động chờ ngày chôn xuống huyệt.

Những người lính anh gặp khắp nơi trong cuộc lữ hành với hết tuổi trẻ qua ba-mươi năm chiến tranh và tù ngục kia đã sống sót qua dài trận bão lửa thống khổ, nhục nhằn, nguy biến mà chắc rằng không một ai của bất cứ quân đội nào, thuộc bất kỳ một sắc dân nào trên thế giới có thể bền bĩ chịu đựng với mức độ kiên cường kỳ diệu đến ngần ấy. Kỳ tích thầm lặng đơn lẽ với phận của "mỗi con người - mỗi người lính" nầy hẳn chỉ được thực hiện, thúc dục nuôi dưỡng bởi "một động lực vô vàn cao thượng". Anh có bổn phận trình bày đầy đủ, và chính xác về hành vi xã kỷ, quên mình nầy.

Nội dung vĩ đại kết nên từ hành vi xã kỷ của mỗi người lính nêu trên được thực hiện qua cảnh tượng của một ngày Hè hùng tráng: Ngày 25 tháng 6, 1972, chiến dịch tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn vị, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng địa phương của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với các chi đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Ðoàn I, được yểm trợ bởi các đơn vị pháo cơ hữu, và của vùng chiến thuật. Ðoàn quân quyết tử phục hận đuong vượt tuyến xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theotrục chính Bắc với mục tiêu cuối cùng - Cổ Thành Ðinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị - mà quân Nam phải tạm lìa bỏ từ 29 tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ huy, từ viên tổng thống tại Dinh Ðộc Lập, đến hàng tướng lãnh chiến trường.

Sự sai lầm tai hoạ của những kẻ lãnh đạo, chỉ huy nay được chuộc lại bằng giá máu của vạn người lính xé thân nơi trận địa . Từ Ngã Ba Long Hưng, cửa ngỏ phía Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù trong ngày 7 tháng 7, 1972, đến cổ thành đoạn đường dài khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực tây đến làng công giáo Tri Bưu phía đông, khoảng cách cũng có bề rộng tương đương Trên khoảng đất rộng hơn cây số vuông kia, mười-lăm ngàn người lính của những đơn vị kể trên đã thay phiên nhau bò, trườn, ẩn núp, gọi pháo, đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến ngày lẫn đêm suốt đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến ngày 14 Tháng 9, 1972 những người lính Tiểu Ðoàn 1, 2, 3.. 6, 8 TQLC đồng lần siết chặt mục tiêu, dựng ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của trận chiến đang hồi kết thúc..

Cờ lên!
Cờ lên!
Giữa vũng lửa
Quân, dân bật khóc nước mắt ứa
Một lần cờ bay trên thành xưa
Bao phần máu xương muôn lính đổ!
Pnn-Cờ ta bay Vàng Nắng Mới Quê HươngVới Tình Thương,
Người lính vẫn sống.

Tham dự cùng cuộc trường chinh nhọc nhằn với người lính từ bước khởi cuộc có một nhân dáng nhỏ bé, yếu đuối, âm thầm chịu đựng với nỗi chết canh cánh không rời! - Người Vợ Lính. Ðây là một đối tượng bị ngộ nhận, mô tả sai lạc một cách dung tục (và đáng phải phê phán) qua tất cả những chữ nghĩa, văn hóa phẩm (của Miền Nam trước 1975, mà hiện nay ở hải ngoại thì lại hứng chịu cách đối xử lạnh nhạt, coi thường).

Những người đàn bà nầy, từ lúc tuổi vừa qua hai mươi, đã gánh chịu những giờ phút nguy nan khắc khoải mà không phương cách chống đở, làm nhẹ bớt đị Họ thức dậy rất sớm vào buổi sớm mai khi đơn vị di chuyển hành quân để sửa soạn cho người chồng bữa điểm tâm kham khổ với ý nghĩ không thể được nghĩ hết, không dám nói ra lời: Biết đâu đây là lần chót!! Họ bế đứa con còn quá nhỏ không khả năng hiểu ra lần tạm biệt hay chia ly đành đoạn với người chạ Hai mẹ con thu người lại dưới ánh đèn đoàn xe GMC chở quân rời hậu cự.

Và người đàn bà vợ người lính, thật sự chỉ là cô thiếu nữ đang ở tuổi thanh xuân kia trở về khu trại gia binh để chờ đợi (một lần rất khả thể) vào một buổi nào đó viên sĩ quan chỉ huy hậu cứ sẽ đến gõ cửa nhà với câu nói khó khăn, ngắn lạnh: Chị chuẫn bị ngày mai theo xe hậu cứ lên nghĩa trang nhận anh!! Và nếu biến cố bi thảm nầy không xẩy ra (như một phép mầu ân sũng), người đàn bà dần qua hết tuổi trẻ để cùng chia sẻ với chồng một ngọn nguồn đau thương, cảnh sống nhục nhằn thống khổ - Lần Miền Nam bị bức tử cùng đành, sáng sớm ngày 30 tháng Tư, năm 1975.

Vợ và những đứa con người lính bị đuổi ngay ra khỏi những căn nhà trong trại gia binh, và bị xếp hạng nên thành là "đối tượng thứ 14 trong 15 giai cấp xã hội" - Loại sau cùng thứ 15 nầy là thành phần tù hình sự can án cướp của, giết người với trường hợp gia trọng - Cách định giá đối tượng xã hội-chính trị của chế độ CS ở VN. Ở Miền Nam.

Con đường từ ga Thanh Hóa vào các trại tù Lam Sơn, Thanh Phong, Thanh Cẩm dài khoảng năm chục cây số đường chim bay; đây là đường thượng sơn nối vùng núi non thượng lưu sông Ðà, dẫn lên mạn Lai Châu, Yên Bái, Nghiã Lộ, Ðiện Biên Phủ hành lang thông qua vùng Trung và Bắc Lào Ðường hiểm trở chạy quanh co giữa những rặng núi đá vôi dựng trường thành, làm thành một trở ngại thiên nhiên vô cùng lợi hại mà ngựa Mông Cổ Thế Kỷ 13 dẫu dẫm nát toàn cõi lục địa Á, Âu vẫn không thể nào xâm nhập được.

Thế Kỷ 15, đạo binh xâm lược Nhà Minh đang ở đỉnh cao cường thịnh cũng không thể bén mảng vào đến những căn cứ địa Lam Sơn, Chí Linh của nghĩa quân Lê Lợị Xe thiết giáp bọc sắt của Quân Ðoàn Viễn Chinh Pháp trong chín năm 1945-1954 cũng đành thúc thủ dưới đồng bằng. Cuối cùng, biệt kích Mỹ với vũ khí tối hảo, yểm trợ tuyệt đối cũng không có cơ may đổ bộ, tấn công. Và bản thân những lính bộ đội CS, trong những ngày kháng chiến vệ quốc chưa lộ mặt, dẫu đang là tuổi trẻ cũng vẫn phải ngã gục trên đoạn đường gai góc..

Anh bạn dãi dầu không bước nổi
Gục bên mũi súng bỏ quên đời!!
Tây Tiến, Quang Dũng

Nhưng, Người Ðàn Bà - Người Vợ Lính, Người Mẹ Miền Nam, đã cùng đi, đến đu với chồng, với con hằng mười năm, hai mươi năm xuyên suốt khổ nạn quê hương.

Họ ra đi lúc trăng non nơi Miền Nam, xuyên qua xĩ nhục, chưởi gào do đám dân miền Bắc được "học tập căm thù bọn ngụy quân, ngụy quyền và gia đình bóc lột ăn bám của chúng", kể cả phải hứng chịu hành hung, cướp giật trên những chuyến tàu lửa đen đủi, ám khói xuyên "miền Bắc tiên tiến xã hội chủ nghĩa".

Và cuối cùng, họ đến trại lúc trăng nhạt màu héo úa, đầu tơi tả tóc lấm bụi, chân khô nẻ gót cắt, với gói quà cứu đói dành giụm từ Miền Nam để nói cùng chồng, cùng con trong năm mười phút thăm nuôi, lời trung hậu đơn giản: "Anh yên tâm, ở nhà có em lọ Con cố gắng học tập.. Mẹ còn sống ngày nào, Mẹ không bao giờ bỏ con."Chỉ với những hành vi, tiếng lời nhỏ bé thăm thẳm thương yêu vừa kể ra trên - Người Lính đã kiên cường xốc tới trong lửa đạn, và tồn tại sau chiến tranh, trong ngục tù, bởi họ đã vô vàn nhận lãnh: Vô Lượng Tấm Lòng Người Vợ- Người Mẹ Miền Nam.

Thủy chung, anh chỉ có một tấm lòng để nói cùng Ngườị Với Người Lính, như đã một lần, về một nội dung, trong suốt một đờị Ba-mươi năm bùng vỡ trận Ban Mê Thuộc.

Denver, 10 tháng Ba, 1975 -2005
Thiếu Úy Phan Nhật Nam
Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù- KBC 4919.
Last Visitors


26 Jan 2015 - 14:14


13 Feb 2012 - 4:29


3 Feb 2012 - 15:45


3 Feb 2012 - 1:45


29 Jan 2012 - 6:57

Comments
Other users have left no comments for KhoaNam.

Friends
There are no friends to display.
Lo-Fi Version Time is now: 21st February 2018 - 02:38 PM