Welcome Guest ( Log In | Register )

Profile
Personal Photo
Options
Options
Personal Statement
lalan doesn't have a personal statement currently.
Personal Info
lalan
Phố Cũ
Age Unknown
Gender Not Set
Location Unknown
Birthday Unknown
Interests
No Information
Other Information
Country: South Africa
Statistics
Joined: 21-April 08
Profile Views: 4,389*
Last Seen: Private
Local Time: Feb 21 2018, 04:30 PM
2,668 posts (1 per day)
Contact Information
AIM No Information
Yahoo No Information
ICQ No Information
MSN No Information
Contact Private
* Profile views updated each hour

lalan

Năng Động

***


Topics
Posts
ibProBattle
Recent wiki edits
Arcade
Blog
Shared Photos
Comments
Friends
My Content
18 Dec 2017

Có nên đặt vấn đề khả năng diễn đạt của tiếng Việt?


Lời giới thiệu "Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, nhà thơ cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc, dẫu thiên tài, nếu thiếu công cụ tinh vi, cũng không thể hiện được tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi. " Liệu tiếng Việt có thể là công cụ đắc dụng cho nỗ lực sáng tạo văn học hay không ? Đó là vấn đề cấp thiết mà chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần đặt ra và mong được sự tham gia góp ý đông đảo. Tên người viết dường như còn xa lạ ; nhưng xa lạ chưa hẳn đồng nghĩa với non kém vì tác giả, trước 1975, đã từng cộng tác với Đài Tiêng Nói Tự Do tại Sài Gòn và, mới đây, với Ban Việt Ngữ Đài RFI ở Pháp. Bên cạnh những lập luận vững vàng có giải thích, có phân tích, có chứng minh và chỉ thuần dựa trên văn bản, bạn đọc cũng nên để ý tới cách dùng câu chữ của tác giả. Hình thức văn phong ở đây cũng có thể là một dạng biểu hiện cho " thiên tài ngôn ngữ " Việt : hàm súc, hóm hỉnh, ý vị trong cách diễn tả, nhưng cũng có thể rất trí tuệ khi cần diễn ý.

ĐỖ BÌNH

Tiếng Việt thường dược coi thuộc loại ngôn ngữ thiên về biểu cảm hơn là diễn ý. Sự đánh giá này có lẽ do đặc tính của tiếng Việt là cụ thể, đày đủ âm sắc rất thuận lợi trong việc sử dụng hình tượng, thanh âm để diễn tả cảm tình, cảm nghĩ với âm hưởng sắc thái đặc biệt (avec nuances et résonnances particulières). Nếu đặc điểm này có đóng góp đáng kể cho nghệ thuật thi ca, trái lại, trong trao đổi hàng ngày nó thường được xử dụng dưới hình thức ám chỉ, ví von để gợi ý, tỏ tình, khen tặng một cách tế nhị kín đáo, hoặc để nói bóng nói gió, nói xỏ xiên với ngụ ý chê bai nhưng không gây mất lòng . Đặc điểm này có thể được coi là sở trường riêng của tiếng Việt và làm nên điều mà ta có thể coi như thuộc về thiên tài ngôn ngữ (le génie de la langue) của tiếng Việt. Nhưng tiếc thay cái yếu tố thiên tài ngôn ngữ ấy, thay vì nên khai thác làm sở trường, người ta lại biến nó thành sở đoản, chỉ đem ra vận dụng trong các giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong cách nói trào lộng hài hước nhằm chê bai nhạo báng, hoặc nói bóng nói gió, nói xỏ nói xiên để khích bác châm chọc. Hậu qủa là tiếng Việt bị đánh giá thấp, cho là thiếu khả năng để trình bày mạch lạc hay diễn tả ý tưởng thâm trầm sâu sắc. Thành kiến này là do thói quen sử dụng chữ nghĩa cẩu thả bừa bãi mà ta có thể phát hiện dễ dàng trên một số trang mạng hay các trang báo hàng ngày. Trong sinh hoạt văn nghệ, tiếng Việt lại thường được khai thác tiêu cực như là thứ ngôn ngữ châm biếm hài hước để chọc cười thiên hạ (Thí dụ như cặp bài trùng M.C Nguyễn Ngọc Ngạn - Cao Kỳ Duyên với những mẩu chuyện đàn bà ghen tuông trong các băng video Thúy Nga, hay cặp Hoài Linh - Vân Sơn nhái lai giọng Quảng, giọng Bắc trong các cuộn băng Asia... để, mỗi lần, lại đánh thức nơi khán giả tới dự buổi thâu băng những tràng cười phản xạ dễ dãi).

Thành kiến này, chẳng những không bị phản bác, lại còn được một vài học giả uyên bác tỏ ý tán đồng. Trong một bài mang tựa đề " Văn học trong một nước mù chữ " đăng trên tạp chí Hợp Lưu số 38, tháng 12/97&1/98, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc có nhận định về tình trạng nhếch nhác, kém phát triển của văn học Việt Nam. Theo ông nguyên nhân chủ yếu là do văn học Việt nam mang đặc tính truyền khẩu hơn là thành văn. " Khuynh hướng truyền khẩu này, (nếu) một mặt làm phát triển tính chất cụ tượng trong tiếng Việt, (thì) mặt khác, lại làm giảm bớt tính chất duy lý trừu tượng của nó... Điều này khiến chúng ta không những không có một nền triết học hoàn chỉnh mà cũng không có, hoặc có rất ít, những thể loại văn học thiên về tư duy trừu tượng như văn chính luận, biên khảo, lý luận và phê bình văn học. " (Bdd, HL số 38, tr. 74). Tiếp theo đó ông Nguyễn Hưng Quốc còn tìm cách giải thích nguyên nhân của tình trạng kém cỏi này trong một bài viêt chung với Hoàng Ngọc Tuấn mang tựa đề " Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo " đăng trên tạp chí VĂN số 37&38, tháng Giêng&Hai-2000 (tr.13-30).
Theo nhận định của hai vị học giả, văn học nước ta sở dĩ trì trệ, không phát triển được trước hết là do tiếng Việt là thứ ngôn ngữ thực dụng chỉ thích hợp cho thói quen " nói bóng nói gió, nói cạnh nói khóe ; ngay cả khi chửi nhau thì cũng thích xỏ xiên hơn là đốp vào mặt. " (Bdd, Văn số 37&38 tr. 14) . Tệ hại hơn nữa, hai ông Quốc và Tuấn còn cho rằng " tiếng Việt đã được giữ gìn và phát triển với tư cách là ngôn ngữ của một dân tộc nô lệ " (Bdd, tr. 17) Và, với một ngôn ngữ nô lệ như thế, ta khó mà xây dựng được một nền văn học có tầm vóc quôc tế ; bởi vì, theo hai ông, " ... ở một phương diện nào đó, trước khi viết ra một bài thơ hay một bài văn, chúng ta đã bị viết bởi chính cái ngôn ngữ mà chúng ta đang sử dụng. Chúng ta là tác phẩm của ngôn ngữ trước khi và trong khi là tác giả. Điều này giải thích tại sao phong cách của một người viết thường khác nhau khi họ sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau : sự khác nhau ở đây không xuất phát từ cá tính hay trình độ của người viết mà chủ yếu xuất phát từ ngôn ngữ. " (Bdd, tr. 26). Nhận định này, tôi e rằng có phần chủ quan và hơi vội vã. Rất có thể hai ông Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã bị chi phối ít nhiều bởi phát biểu của một sinh viên mà hai ông đã trích dẫn trong phần mở đầu cho bài viết : " Viết văn bằng tiếng Việt mà viết rõ ràng như tiếng Anh thì...dở lắm thầy ơi ! " (Bdd, Văn số 37&38 tr. 14). Tôi cho rằng đây là một ngộ nhận đáng tiếc dễ dẫn đến sự rẻ rúng tiếng Việt, coi nó không phải là thứ ngôn ngữ có khả năng dáp ứng được nhu cầu sáng tạo. Hậu quả là các thế hệ con cháu người Việt ở hải ngoại ngày càng lơ là, bỏ rơi tiếng mẹ đẻ. Riêng với các em muốn theo đuổi sự nghiệp văn chương , dường như đang manh nha một phong trào khuyền khích các em nên viết thẳng bằng thứ tiếng quốc gia nơi các em trưởng thành, làm như chỉ sáng tác bằng tiếng nước người các em mới phát triển được tài năng của mình.
(1) Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc dẫu thiên tài, nếu thiếu dụng cụ tinh vi, cũng không thể hiện dược hết tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ nghề tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi. Nhà văn Cao Hành Kiện nay mang quốc tịch Pháp, hiện sống tại Pháp và có những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Nhưng, nếu tôi nhớ không lầm, tác phẩm LINH SƠN đem lại cho ông giải thưởng văn hoc Nobel dường như được viết ra bằng tiếng Hoa rồi sau đó mới được dịch ra dủ thứ tiếng trên thế giới thì phải.
(2). Ngày nay tiếng Pháp được coi là ngôn ngữ của một nền văn hóa cao. Nhưng trong suốt thời kỳ Trung cổ tiếng Pháp bị hàng giáo phẩm và giới viện sĩ rẻ rúng, coi là ngôn ngữ tầm thường, dung tục chỉ dành cho giới bình dân thất học. Khi cần soạn bài giảng hay viết sách, các giới này đều thảo bằng tiếng la tinh. Phải chờ tới thời Phục Hưng (la Renaissance) khi Du Bellay đại diện cho thi đoàn La Pleiade soạn ra bản " Défense et Illustration de la langue française " (1549 ) để bênh vực và minh sáng cho tiếng Pháp, tiếng Pháp mới được đưa vào trước tác, và từ đó công hiến cho kho tàng văn học thế giới không ít tác phẩm có giá trị. Qua gương nhóm La Pleiade, ta có nên đặt câu hỏi : tiếng Việt liệu có là công cụ hữu hiệu cho phép nhà văn, nhà thơ phát huy được tài năng sáng tạo của mình hay không ? Hay, để làm nên những tác phẩm có tầm vóc quốc tế, ta phải kêu gọi tới sự chi viện của các lý thuyết văn học ngoại lai hoặc cầu viện tới một thứ tiếng nước ngoài ? Theo nhận xét của tôi, tiếng Việt không phải chỉ có giỏi về ăn nói ngụ ý hàm súc (hay chua ngoa móc méo) đâu. Trái lại, nếu ta chịu khó suy nghĩ đắn đo, cân nhắc thận trọng trong cách sử dụng câu chữ, ta sẽ thấy tiếng Việt có thừa khả năng đáp ứng cho yêu cầu phân tích chính xác hay diễn đạt tư duy trừu tượng chắc gì các ngôn ngữ được coi thuộc loại trí tuệ nhất đã qua mặt nổi.

Cách đây khá lâu tôi có người quen đi thăm Việt Nam về mua tặng cuốn " Nguyễn Bính, thơ và đời ", của Nhà xuất bản Văn Học Hà Nội - 1998. Tôi hoan hỉ đón nhận xong lại dem xếp ngay vào tủ sách ở một vị trí khá ưu đãi, có lẽ do ấn tượng tốt đẹp về những vần thơ lục bát đã đọc hồi còn ở lứa tuổi mười sáu đôi mươi. Mãi tuần qua, gặp dịp mấy ngày nghỉ lễ bắc cầu, tôi mở tủ sách định chọn một cuốn để đọc giải trí. Không hiểu sao bàn tay tôi như dược ai hướng dẫn tự động mò tới hàng kệ có xếp cuốn " Nguyễn Bính " và tôi cũng ngoan ngoãn cầm lấy. Tôi cho rằng đây là một phản xạ thuộc về chức năng nhằm đáp ứng một nhu cầu ngấm ngầm của cơ thể. Có lẽ thời gian gần đây tôi phải động não quá nhiều để tìm cách giải mã các vần điệu mang hình thức phá thể cách tân, nào là những khoảng ngắt không gian bằng gạch chéo slash, những con chữ bị tách lìa, những câu bị đứt đoạn xuống hàng bất ngờ để, hoặc làm mới ngữ nghĩa hay gây hiệu quả xốc, hoặc tạo ra hơi thở khi lên xuống nhịp nhàng lúc rồn rập hổn hển cho đúng với mạch điệu của mốt sống văn minh dậm dật đua đòi..., thành thử đầu óc mệt phờ. Chắc vì thế tôi đâm hoài niệm đôi ba vần thơ trong sáng bình dị để tâm thần được phần nào thư giãn (cũng như cái bao tử của ta, có lúc anh ách do thừa mứa những món chiên xào béo bổ, bỗng dưng thèm được một bữa rau muống luộc chấm tương bần, lại có thêm bát nước rau văt chanh tươi để khi húp vào, khiếp, mới thấy nó mát cái ruột làm sao !) Tình cờ mở sách rơi đúng trang 34-35, gặp bài thơ mang tựa đề " Chân quê " thấy có vẻ gần gũi thân quen nên quyết định thử đọc chơi. Vì chỉ có ý đọc chơi nên tôi sẽ không đọc với cặp mắt hau háu của nhà phê bình để phân tích, phẩm bình giá trị thi tính của bài thơ. Trái lại tôi sẽ đọc rất buông thả, để mặc cho trí tưởng tượng nương theo lời chữ, vần điệu à ới mà tự do bay bổng. Như cái thuở là thằng cu tí còn mặc quần thủng đít tóc để chỏm trái đào, những lúc nằm rúc nách mẹ tôi một tay ngón cái đút miệng tay kia rờ tí mẹ, cặp mắt riu riu theo tiếng võng đu đưa kẽo kẹt và, tùy theo lời ru của mẹ : khi thì " cái ngủ mày ngủ cho ngoan ", khi thì " trăm năm trong cõi người ta ", khi thì " em ơi ! em ở lại nhà ", lang bang nhớ tới các mẩu chuyện lúc thì Thạch Sanh, lúc thì Cô gái quàng khăn đỏ, lúc thì Công chúa ngủ trong rừng... để rồi ngủ quên lúc nào không hay. Vậy là tôi đã chọn đọc bài thơ này không phải như là một bài thơ, mà như là nghe kể một câu chuyện bằng văn vần theo truyền thống một dân tộc mà thực chất, theo nhận định của Nguyễn Hưng Quốc ký tên Nguyễn Ngọc Tuấn, không phải là một dân tộc thi sĩ mà chỉ được tiếng huyền thoại về một nước thơ (Nguyễn Ngọc Tuấn : Huyền thoại về một nước thơ - Hợp Lưu số 18 tháng 8&9 năm 1994, tr.64-75) :

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng

A, ra đây là lời kể lể của một chàng trai nông thôn đi đón người yêu thăm tỉnh về. Anh không chỉ ra đầu làng nơi hai người vẫn thường hẹn hò, mà leo len tận bờ đê để có thể thấy nàng từ xa. Anh hồi hộp mong ngóng lắm, phần nhớ nàng, phần thấp thỏm về chuyến di của nàng. Thời nay, người ta từ Mỹ từ Pháp về Việt Nam cứ xoành xoạch như đi chợ ấy ; nhưng vào thời Nguyễn Bính chỉ đầu thôn với cuối thôn cũng cho là xa rồi. Vậy mà nàng lại ra tận tỉnh cơ, là nơi anh nghe nói có nhiều cám dỗ lắm, làm sao anh không bồn chồn cho được. Thế rồi bóng ai thấp thoáng chân đê. Nhìn vào dáng đi, đúng là nàng. Nhưng bóng người càng tiến gần, anh đâm ngờ ngợ. Qua dáng đi thì đúng là nàng, nhưng sao cách ăn vận lại không phải là nàng. Rồi khi nhận ra đúng là nàng, anh bật miệng than :

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

Quan sát nàng từ đầu tới chân anh tự hỏi :

Nào đâu cái yếm lụa sồi ?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân ?
Nào đâu cái áo tứ thân ?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen ?

Trời đất ơi, thế này có khổ thân tôi không cơ chứ ! Em mới ra tỉnh có một ngày mà đã vội đua đòi cách ăn mặc dân thành thị. Em mà đi về thêm vài lượt nữa tránh sao khỏi bị mấy thằng bẻm mép láu tôm láu cá trổ tài tán tỉnh dụ khị em, tìm cách cuỗm em đi để hại đời em. Khi đó chắc là anh chỉ biết ngước mắt lên trời mà than : " Mất em rồi, xa em rồi ! Chiều hôm nay trên đê vắng, anh di về chỉ có anh ! " Và, cho dù một buổi chiều cuối đông mưa dầm gió bấc, nàng có khăn gói quả mướp quay về thì người đẹp mà anh vẫn trăm nhớ ngàn thương, khi ấy, chắc cũng chỉ như bông hoa đã tàn nhụy đã phai mà thôi. Ý nghĩ này làm anh quíu quá nên anh vội nài nỉ bằng lời lẽ bộc trực của một tâm hồn cục mịch :

Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hăy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

Và để tranh thủ được nàng hơn nữa, anh không ngần ngại cầu viện tới bố mẹ ; rồi còn dùng lối nói vè dân gian tính mượn sức mạnh quần chúng gây áp lực :

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê.

Nhưng vừa đọc tới hai chữ " chân quê " tôi giật mình đánh thót một cái : Thôi hỏng rồi ! Cái kịch bản tôi đang dàn dựng theo trí tưởng tượng, thế là không đứng vững được ! Phải chi Nguyễn Bính viết câu thơ đó như sau : " Thày u mình với chúng mình nhà quê " thì câu chuyện được xuôi buồm thuận gió biết mấy. Đằng này ông lại chơi khăm, ông định xỏ tôi, ông đi dùng hai chữ " chân quê " mói đâm ra rắc rối cái sự đời. Đành rằng nhà quê hay chân quê đều nói lên bản sắc đồng quê, nhưng chúng lại không đồng nghĩa vì hai từ ghép này bộc lộ hai tâm trạng phản ánh hai trình độ nhận thức khác nhau. Nhà quê có thể coi như đồng nghĩa với quê mùa : chúng cùng mang âm hưởng của một sụ đánh giá thấp, một ngụ ý chê bai dè bỉu ; đồng thời chúng còn biểu lộ một thái độ an phận thủ phần.
Chân quê, trái lại, là sự kết hợp của chữ " chân " gốc hán với chữ " quê " gốc việt. Mà chữ " chân " khi ghép với một chữ nào đó thường đem lại cho chữ được ghép chung với nó một phẩm tính, một giá trị làm cho chữ đó trở nên sáng giá, thi dụ như chân lý, chân chính, chân phương, chân thực, chân chất, chân thiện mỹ... Bởi vậy tôi không tin là từ chân quê có thể dược thốt ra từ một nông dân cục mịch như trong kịch bản tôi đang dàn dựng. Thế là mặc dầu đã định bụng nghỉ chơi với trí tuệ một bữa, nhần thức này buộc tôi phải đọc lại chăm chú hơn để tìm hiểu ý nghĩa bài thơ cho đúng với quan niệm sáng tạo của Nguyên Bính. Nhờ sẵn chủ ý đọc lại với tinh thần cảnh giác nên vừa gặp chữ " mãi " trong câu :Đợi em ở mãi con đê đầu làng, tôi hửi ngay ra có cái mùi khang khác. Bình thường ta hay dùng chữ mãi làm trạng tự thời gian và chữ tận làm trạng từ nơi chốn, như lời thỏ thẻ sau đây của cô gái với người tình (nghe đâu là một việt kiều cao cờ cũng yêu nước lắm thì phải) mà có lần tôi nghe lóm được : " Anh hứa đi, anh hứa yêu em mãi mãi đi (và mua tặng em chiếc nhẫn hột xoàn mười li đi), rồi em nguyện sẽ theo anh tới tận góc bể chân trời ".



Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại viết : Đợi em ở mãi con đê đầu làng. Như vậy nhân vật là tác giả câu này đã chọn chữ mãi với dụng ý hẳn hoi, nhằm nhấn mạnh tới yếu tố thời gian. Không phải thời gian vật lý mà là thời gian tâm lý : chữ mãi gợi ý cho ta về một sự chờ dợi lâu dài, lâu thiệt là lâu. Nhưng thế nào mới gọi là lâu ? Nửa giờ ? Một giờ hay nửa ngày ? Điều này không quan trọng. Khi người ta nôn nóng trông đợi một điều gì thì chỉ cần khoảnh khắc cũng đã thấy lâu rồi. Bằng chữ mãi để bộc lộ sự sốt sắng nhiệt tình của mình đồng thời cũng là hình thức kể công, tác giả câu nói, nếu không là con cháu ông đồ, ít ra phải có lui tới sân Trình cửa Khổng nên cũng võ vẽ ăn mày được đôi ba chữ nghĩa thánh hiền. Sự kiện này có thể kiểm chứng nếu ta để ý tới hai chữ rộn ràng ở câu thơ kế tiếp : Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng.
Trước hết là cách dùng chữ táo bạo có thể coi như phá thể cách tân của nó : Thông thường ta quen dùng hai chữ rộn ràng như tính từ đi kèm một danh từ chỉ hành động (bước chân rộn ràng) hay với một danh từ chỉ tâm trạng (lời ca rộn ràng), hầu như chẳng bao giờ với một danh từ chỉ sự vật (tấm áo rộn ràng). Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại có ý sử dụng hai chữ rộn ràng làm động từ chứ không phải tính từ. Cách sử dụng làm thay đổi bản chất và chức năng của loại từ (từ tính từ sang động từ) có hai tác dụng : một là, khiến cho câu chuyện đang ở trạng thái tĩnh chuyển sang trạng thái động, đang ở thể kể chuyện và mô tả biến sang hoạt cảnh ; hai là, bộc lộ được tâm trạng của cô gái khiến ta nắm bắt được hai phản ứng tâm lý khác nhau giữa nhân vật nông dân cục mịch trong kịch bản một và nhà nho nông dân trong lịch bản hai.
Trong câu thơ khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, bốn chữ khăn nhung quần lĩnh được nêu lên trước tiên biểu hiện cho cái gì đập ngay vào mắt người đứng đợi. Bởi vậy anh nông dân chất phát mới tá hỏa tam tinh khi thấy người yêu thay đổi hẳn cách trang phục và, sẵn mang mặc cảm thua kém, anh vội van xin nàng hãy giữ nguyên quê mùa để chịu cho anh cưới hỏi mà về ăn ở với anh. Nhà nho nông dân trái lại, nhờ có kiến thức hơn nên sáng suốt hơn, rành tâm lý hơn, bình tĩnh hơn. Anh không chỉ dò xét người yêu qua cách ăn vận mà còn qua dáng đi bộ tịch của nàng. Giả dụ cô gái đã ăn phải bả xa hoa thành phố rồi, khi nhìn thấy bộ mặt đưa đám của anh nông dân thế nào cô cũng làm bộ ngúng nguẩy và nguýt xéo một cái ra điều mắng vốn : Nỡm chưa ! Đây có bảo đấy đi đón đây đâu mà đấy đến đứng đây làm gì ? Trường hợp cô nàng dại dột chẳng may đã lỡ bị với ai mất rồi, thì khi giáp mặt người tình chắc cô sẽ không tránh khỏi lúng túng trong một vài cử chỉ che dấu ngượng ngùng. Đằng này hai chữ rộn ràng cho ta thấy cô gái không chỉ chân bước le te mà hai má còn ửng hồng, khuôn mặt tươi rói. Nàng như vừa muốn làm cho chàng trai phải lé mắt với bộ trang phục tỉnh thành của mình vừa muốn nói rắng : Ngó em đi nè ! Em ăn bận đẹp dzầy là dzì anh đó , là muốn được anh thương em nhiều hơn, anh có biết hông ! Vậy là những bước chân rộn ràng của cô gái đủ trấn an chàng trai nông thôn về mối tình chung thủy của nàng rồi. Ấy thế mà anh nông nho vẫn than : Em làm khổ tôi ! Tại sao vậy ? Tuy cùng một câu than, nhưng lời than của anh nông dân và của anh nông nho lại không cùng một nội dung nên phản ánh hai tâm trạng khác nhau. Anh nông dân sẵn có mặc cảm quê mùa nên khi thấy người yêu súng sính trong bộ áo tỉnh thành, anh ta chỉ lo đến chuyện mất nàng. Lời than của anh nông nho trái lại biểu lộ một tâm trạng vừa giận vừa thương : Nhìn khuôn mặt hân hoan rạng rỡ của người yêu anh hiểu rằng nàng học cách ăn mặc tỉnh thành chỉ vì muốn làm đẹp để được anh yêu nhiều hơn. Vì vậy anh mới thương nàng, và càng thương nàng anh lại đâm ra giận nàng, hay đúng ra buồn phiền vì nàng : Em yêu ! Anh biết rằng con tim em không hề lỗi nhịp với anh nhưng nó lại trật nhịp với tim anh mất rồi ! Khổ quá ! Hai đứa mình đã bao lần hẹn hò tâm tình với nhau bên bờ giếng cuối thôn hay bụi tre đầu ngõ mà em vẫn chưa hiểu được lòng anh. Anh thương em là thương ở cái nội dung cái nết hay làm chứ đâu chỉ ở cái hình thức nhan sắc của em. Ai đẹp bằng em là anh đã hết biết rồi, em còn bày đặt đua đòi bắt chước làm chi ! Vả lại mấy cổ có gì hơn em đâu mà em phải băt chước. Xí..., đời thuở nhà ai con gái con đứa gì mà lười như hủi ấy. Thêu thùa bếp núc chẳng chịu học, chỉ thích ăn cơm tháng thôi. Bao nhiêu thì giờ đều dành cho việc sửa mắt sửa mũi với lại shopping. Ai mà dám rước mấy của nợ ấy về , rồi sẽ có ngày phải đem thóc giống đi bán lấy tiền để ăn cho mà coi. Bởi vậy tuy thốt ra cùng một lòi kêu gọi :

Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em di lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

Nhưng hai chữ quê mùa lại có một ý nghĩa khác. Chúng cần được hiểu như một kêu gọi thách đố, một biểu hiện của tự tin tự hào về phẩm chất của mình : Không việc gì em phải mang mặc cảm quê mùa với mấy cô gái tỉnh thành ấy cả. Mấy cổ lên mặt chê bai em chứ sức mấy họ bằng em được. Em phải biết : cái ngày hội đầu xuân em di lễ chùa ấy mà, em còn nhớ không? Lần đầu gặp em xinh xắn trong bộ áo tứ thân với chiếc khăn mỏ quạ và tấm yếm lụa sồi là anh đã phải lòng em ngay rồi đấy ! Và, tuy cũng ngần ấy lời nhắn nhủ như anh nông dân :

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chung mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Nhưng với anh nho sinh, hai chữ chân quê đã khiến câu hoa chanh nở giữa vườn chanh không còn là một câu vần vè ví von thường tình nữa . Nó biến bốn câu thơ kết nay thành một lời nhắn nhủ đậm đà thi tính, giàu màu sắc, ánh sánh và hương vị như muốn nhắc nhở cô gái quê rằng chỉ có trong bộ y phục nông thôn mộc mạc nàng mới bộc lộ trọn vẹn cái đẹp tự nhiên thôn dã. Nhờ vậy mà hai câu cuối :

Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Một lần nữa cho phép ta xác nhận rằng tác giả câu chuyện bằng văn vần này đúng là một anh đồ nông dân bắc bộ phủ. Sau khi tâm sự và nhắn nhủ người yêu rồi, anh còn tập làm Cao Bá Quát, trầm ngâm triết lý ba xu theo kiểu " thế sự thăng trầm quân mạc vấn " : Nếu người yêu của anh có đua đòi lối ăn mặc thành thị, xét cho cùng, chẳng có gì đáng trách cả. Nàng cũng chỉ ứng xử theo phương châm sống " người sao ta vậy " thường tình ở đời mà thôi. Nhưng cũng vì thế anh mới ngậm ngùi luyến tiếc cho nàng đã thiếu tự tin không biết tự hào với vẻ đẹp thuần khiết đồng nội của mình, làm hư hao phần nào hình ảnh người yêu lý tưởng trong trái tim anh. Kết qủa là ở hai câu kết, câu thơ lục không chỉ có là một lập lại truyền thống vần vè : ý của nó được quyện với ý của trạng từ ít nhiều trong trong câu bát để tạo ra một âm hưởng buồn khơi dậy nơi người đọc một cảm xúc mênh manh diệu vợi. Và cũng bởi có một cảm xúc buồn diệu vợi còn đọng lại nơi tôi nên, tuy có biết tác giả Nguyễn Bính đã chết, nay đã chết rồi và mặc dù có được nghe nhiều người nhắc đến tên các ông nào là Michel Foucault, nào là Roland Barthes, nào là Jacques Derrida v.v..., tôi vẫn không sao ngắt nổi một cành hoa thạch thảo để băt nhà thơ Nguyễn Bính phải chết theo. Và sở dĩ tôi không đành lòng đi ngắt một cành hoa thạch thảo bởi vì nếu không có Nguyễn Bính thì làm sao có bài thơ Chân quê, và nếu không co bài thơ Chân quê làm sao tôi lại có được cảm xúc mênh mang buồn diệu bữa nay. Bởi vậy càng đọc bài Chân quê và suy ngẫm về cái từ được chọn làm tựa đề, tôi càng thấy tác giả qủa là một nhà thơ sáng tạo. Chỉ với hai chữ Chân quê thôi, Nguyễn Bính đã thay đổi hẳn diện mạo bản văn : Thay vì chỉ là một câu chuyện kể theo truyền thống dân gian bằng những vần điệu du dương à ới để ru em, tôi lại tìm thấy ở Chân quê một bài thơ đúng với nghĩa " 'thơ' trong nhiều ngôn ngữ Tây phương (poetry, poésie, poesía, Poesia, poesia) hàm ý hành động sáng tạo gắn liền với tri thức và kỹ thuật tinh luyện chuyên biệt trong phạm vi ngôn từ " theo quan điểm của Nguyễn Hưng Quốc & Hoàng Ngọc Tuấn trong bài viết đã dẫn (Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo -Văn số 37&38, tr.23). Tôi sẽ không đề cập tới vần điệu hay nhạc điệu là những yếu tố sẵn có trong thể lục bát. Ở đây tôi chỉ đề cập tới sự cách tân và tính sáng tạo trong kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ để làm mới ngữ nghĩa. Trên đây tôi đã có dịp phân tích ý nghĩa đặc biệt của các từ mãi, rộn ràng, quê mùa để minh chứng về kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ của Nguyễn Bính. Nay tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm về tính sáng tạo của hai chữ " chân quê " khiến tôi phải đọc lại bài thơ từ đầu và, nhờ đó phát hiện ra cách sử dụng đặc biệt mấy từ trên giúp tôi diễn dịch bài thơ theo một hướng mới làm thay đổi hẳn nội dung, ý nghĩa, giá trị bản văn . Nếu tôi hiểu không sai lắm, thì dường như do đặc tính này, ta cũng có thể tìm thấy ở " Chân quê " một ti tí tân hình thức, một ti tí hủy cấu trúc hay một ti tí hậu hiện đại gì đó thì phải.
Trước hết ta không thể phủ nhận từ này là một sáng tạo của Nguyên Bính bởi lẽ nó không chỉ mới lạ ở thời Nguyễn Bính, mà ngay cả bây giờ cũng ít thấy trường hợp sử dụng nó trong những bài thơ hay truyện viết về đồng quê. Tuy chỉ cần thay thế chữ nhà (quê) bằng chữ chân (quê) là ý nghĩa và giá trị bài thơ thay dổi hẳn, nhưng việc làm không dễ dàng như ta tưởng. Trái lại nó đòi hỏi người thực hiện công việc đó phải có vừa một kiến thức tầm vóc vừa một kỹ thuật tinh luyện trong phạm vi ngôn từ mới biết kết hợp chữ chân với chữ quê thành từ chân quê khiến bài thơ bỗng trở nên sáng giá. Bởi vậy ta có thể nói hai chữ chân quê trong trường hợp sử dụng này phải là thành quả tư duy của cả một quá trình phân tích và tổng hợp nên mới đạt được mức trừu tượng hóa cao đến thế.
Tôi không rành tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga hay tiếng Nhật nên không biết các ngôn ngữ này có một hay hai từ nào tương xứng để dịch được trọn ý từ chân quê trong câu thơ của Nguyễn Bính hay không ? Riêng về phần tôi sẽ vô cùng lúng túng nếu có ai nhờ tôi dịch câu thơ này ra tiếng Pháp. Phải chi Nguyễn Bính dùng hai chữ nhà quê như mọi người, tôi sẽ dịch dễ dàng câu thơ : " Thầy u mình với chúng mình nhà quê " ra : " Nos parents et nous deux, nous sommes tous des campagnards ". Nhưng để dịch hai chữ chân quê của Nguyễn Bính lúc đầu tôi có ý sửa câu dịch thành : "Nos parents et nous deux, on est paysans de souche " và nghĩ rằng cụm từ paysans de souche nói lên được cái ý nguồn gốc trong nghĩa hán của từ chân , đồng thời từ paysans để đánh dấu sự khác biệt với từ campagnards thường dược dùng với ngụ ý dè bỉu (sens péjoratif). Nhưng khi đọc lại câu vừa sửa, tôi thấy cần phải thêm một vài chữ nữa để bổ nghĩa như sau : " Nos parents et nous deux, on est paysans de souche et on en est fiers ", có thế một người Pháp chính gốc mới nhìn ra được cái ý của niềm tự hào về nguồn gốc nông dân tiềm ẩn trong chữ chân. Nhưng tự hào về cái gì cơ chứ ? Thế là tôi lại thấy có thêm vào mấy chữ " ...et on en est fiers " vẫn chưa dủ, vì trong từ chân còn có ý nói lên cái đẹp, cái khía cạnh tích cực, ở đây là phẩm chất con người và đời sống thuần thôn dã : siêng năng, bình dị, lương thiện, sống hòa hợp với thiên nhiên... Mà muốn câu dịch diễn tả trọn vẹn ý nghĩa cái hay cái đẹp nằm trong câu thơ của Nguyễn Bính chắc là tôi còn phải thêm lời giải thích. Nhưng dịch câu thơ có tám chữ mà phải lời lẽ lòng thòng đến thế thì nó đâm ra là thẩn mất rồi, đâu còn là thơ được nữa. Bởi vậy tôi rất mong có những vị thuộc thành phần học thức uyên bác rành ngoại ngữ, bất cứ ngoại ngữ nào dù là tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật hay tiếng Congo cũng được, xin mấy vị hãy làm ơn làm phúc cũng như làm giàu (đẻ con không sợ trọc đầu) dịch dùm tôi câu thơ trên của Nguyễn Bính ra một thứ tiếng nước ngoài. Nhưng phải dịch cho ra thơ mới được cơ ; còn dịch để biến nó thành thẩn là tôi hổng có chịu đâu ...Ứ... ƯØ... ! Nếu chỉ với đôi ba từ quí vị dịch lột được ý hai chữ chân quê của Nguyễn Bính, tôi sẵn sàng mua cặp gà mái dầu (gà lành thứ thiệt nuôi tại chuồng nhà chứ không phải thứ gà mắc dịch cúng gia cầm đâu nhá) để xin tôn vinh làm sư phụ.

Bài " Chân quê " của Nguyễn Bính được viết ra vào năm 1936, tức là vào thời điểm nhân dân ta vừa thoát khỏi họa một ngàn năm nô lệ giặc tầu lại rơi ngay vào vòng kiềm tỏa của một trăm năm đô hộ giặc tây (nhưng may quá còn chưa lâm vào cảnh ba mươi năm nội chiến từng ngày). Dưới ánh sáng của các lý thuyết cách tân văn học hiên đại, " Chân quê " chỉ đáng coi thuộc loại văn học truyền khẩu trong một nước mù chữ mà trình độ dân trí, ở thời điểm này, đa số chỉ tới mức bình dân học vụ là cùng. Có lẽ vì vậy Nguyễn Bính đã chọn hầu như toàn những lời lẽ trong sáng giản dị nhất để bài thơ có thể phổ biến rộng rãi trong dân gian.
Lời lẽ giản dị trong sáng đên độ Hoàng Tấn có lần trước mặt Nguyễn Bính đã phải thốt lên : " Bài thơ trần trụi tới mức như con nhộng, ai mà chẳng hiểu " (Nguyễn Bính - Một vì sao - trích hồi ký Hoàng Tấn, trong cuốn Nguyễn Bính -Thơ và Đời, tr.152). Đáp lại, Nguyễn Bính đã nhân dịp bày tỏ quan niệm sáng tác thơ của mình : " Tôi chủ trương thơ Việt viết cho người Việt, trước hết phải mang sắc thái và phong cách Việt, do đó giản dị là một điều cốt lõi. (Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường... ") - [Bdd, tr. 153 ]. Về quan niệm sáng tác này, Hoàng Tấn đã có cơ hội kiểm chứng sau một thời gian được chung sống với nhà thơ : "Nếu với thơ, Bính đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ, trước khi đưa in viết sạch sẽ nắn nót bao nhiêu, thì trong cuộc sống Bính bạt mạng buông thả bấy nhiêu. " (Bdd, tr.160) .
Các sự kiện trên đây đều do Hoàng Tấn thuật lại trong hồi ký, nên tôi không dám chắc phát biểu của Nguyễn Bính có đúng là nguyên văn hay không. Riêng về phần câu : Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường, trong trích đoạn hồi ký được in lại, không có chỉ dấu nào cho biết phần phát biểu của Nguyễn Bính tới đâu là chấm dứt nên, mặc dù đọc đi đọc lại tới ba bốn lần, tôi vẫn không dám quyết đoán câu này là lời giải thích thêm của Nguyễn Bính hay là một nhận xét riêng của tác giả hồi ký. Dầu vậy dựa trên bài " Chân quê " và một số bài thơ khác của Nguyễn Bính, tôi cho rằng những điều Hoàng Tấn ghi nhận về Nguyễn Bính là khả tín và phản ánh được trung thực quan niệm sáng tác của nhà thơ. Từ đó tôi rút ra hai hệ luận như sau : Một là, văn chương Viêt Nam cho tới thời Nguyễn Bính nói chung, nếu quả đúng chỉ thuộc loại văn chương truyền khẩu gồm những bài hát vè, những chuyện kể vần điệu du dương à ới để ru em mà thôi, thì với những bài hát vè như bài " Chân quê " dân tộc ta, may mắn thay, tuy không phải là một dân tộc thi sĩ, nhưng ít ra cũng có một vài người thuộc loại Nguyễn Bính có mang chút ít tâm hồn thơ ; hai là, vào thời điểm của Nguyễn Bính nhân dân ta phải sống dưới sự kìm kẹp của thực dân Pháp nghĩa la còn là một dân tộc nô lệ nên chỉ có thể nói thứ tiếng nô lệ mà thôi, theo đánh giá của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn (bdd). Nhưng với cách vận dụng đầy sáng tạo của Nguyễn Bính qua bài " Chân quê ", tôi tin rằng bất cứ nhà bác học thực dân phú lang xa mũi lõ mắt xanh tóc hung nào là thành viên của Viễn Đông học viện (Ecole de l'Extreme-Orient) nếu có đọc bài thơ này và nắm được ý nghĩa của hai chữ chân quê trong câu thơ Nguyễn Bính thì, dù tự cho mình có sứ mạng đến khai hóa cho đám dân ngu cu thâm bản xứ, ông ta với tinh thần phục thiện, chắc cũng phải ngả nón cúi đầu xin chào thua mà thôi.
Bởi vậy tôi không tin có thứ ngôn ngữ nô lệ của một dân tộc nô lệ và thứ ngôn ngữ tự do dành cho các dân tộc tự do, mà chỉ có những đầu óc nô lệ với quán tính tư duy nô lệ nên bắt chữ nghĩa phải mang thân phận nô lệ do cung cách phát biểu mang tinh thần nô lệ hay do căn bệnh làm biếng suy nghĩ tìm tòi của mình mà ra. Cũng vì vậy, ai muốn nói gì thì nói, tôi vẫn cứ yêu tiếng nước tôi như thường. Tiếng nước tôi ? Vâng tiếng nước tôi là thứ tiếng mà tôi chót yêu từ khi mới ra đời (người ơi !). Còn cái được gọi là nước tôi í à, thì nay nó lại nằm tại Pháp, tại, Đức, tại Mỹ, tại Nga, tại Úc...nghĩa là ở tận đẩu đâu, tại một nơi nào đó trên địa cầu, chứ không còn thuộc về mảnh đất mang hình chữ S bên bờ Thái Binh Dương nữa. Và cũng bởi nước tôi nay không còn là mảnh đất mang hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương nên tôi lại càng thèm được nhận (vơ) tiếng Việt là tiếng nước tôi hơn bao giờ hết...

NGUYỄN - BẢO - HƯNG
__________________________________________________ ________________________

(1) Không riêng gì các thế hệ con cháu người Viêt hải ngoại, mới đây thôi nhà văn Dương Như Nguyện, đồng thời cũng là luật sư, thẩm phán, giáo sư đại học có cho biết mình " là một con người nhạy cảm, một con người sáng tạo, lãng mạn và thích mạo hiểm, nhiều cá tính, nhưng vẫn trung thành với thông lệ và truyền thống ". Trước đó nhà văn tự nhận mình " vẫn luôn có khiếu về ngôn ngữ kể cả tiếng mẹ đẻ ". Thế nhưng tác phẩm của bà " Daughters of the River Huong " (Con gái sông Hương) lại được viết ra bằng tiếng Anh, và bà đã trả lời phỏng vấn của Lý Đợi qua điện thư (email) cũng bằng tiếng Anh. (Coi : Dương Như Nguyện " Lịch sử trở thành kẻ hiếp dâm, mà văn hóa là nạn nhân bị hãm hiếp " - Lý Đợi thực hiện - TALAWAS, 07-03-2008, mục Văn Học Việt Nam.)
(2) Ấn bản tiếng Pháp : " La Montagne de l'Ame ", traduit du chinois par Noel et Liliane Dutrait, Éditions de l' Aube, 1995 et 2000 pour la traduction française.
18 Dec 2017

Luận về 2 chữ Ăn Chơi


Không phải "Con hát Mẹ khen hay" cũng không phải "Mèo khen mèo dài đuôi"và lại càng không phải "Tự ái dân tộc", tôi, dù không phải là một nhà ngôn ngữ học, tôi vẫn bạo mồm , bạo phổi mà tuyên bố rằng thì là tiếng Mẹ đẻ của tôi , tức là tiếng Việt Nam của tôi, của chúng tôi rất chi là phong phú.

Này nhé, nếu có ai đó hỏi bạn:
Sao ! Anh, độ rày như thế nào rồi, công việc làm ăn như thế nào rồi?
Bạn chỉ cần trả lời:
Lu bù!
Hai tiếng ngắn gọn bao hàm hết tất cả những gì bạn muốn mô tả. Chữ "Lu" không phải là cái lu, cái chum, cái vại, cái ghè , cái ché. "Lu" không là cái gì sất! Chữ "Bù" không có nghĩa là bù trừ, bù lỗ, bù đắp, là đánh bài xì dách trên 21 nút. "Bù" không là cái gì hết trơn hết trọi. Hai chữ không có một ý nghĩa gì hết, thế nhưng ghép chung lại với nhau để trở thành một tiếng "tán thán từ"(Interjection) hay một "trạng từ" (Adverbe) thì lại mang một ý nghĩa thật phong phú và trào lộng. Lu bù nghĩa là lung tung xèng, là loạng quạng, là đầu tắt mặt tối, là ngập lút đầu không thở nổi, là nhiều quá sá quà sa, là đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất, là 36 ngàn cách (trente-six mille facons) theo lối nói của dân Tây. Tôi thú thật chẳng hiểu vì sao dân Tây lại dùng con số 36 để diễn tả một số nhiều có tính cách trào phúng. Tôi chỉ biết lúc tuổi đời đã đến thuở cặp kê thì lũ học trò Trung học chúng tôi đă truyền tay nhau một xấp ảnh thuộc loại "ma bùn" gồm 36 kiểu làm tình và con số 36 kể từ đó đã mang một ý nghĩa xấu.

Lại loạn bàn lung tung! Xin trở về với cái phong phú của những từ ngữ kép trong ngôn ngữ Việt Nam! Ngoài những chữ vốn đứng một mình đơn lẻ thì không mang một ý nghĩa nào hết nhưng khi ghép lại với nhau thì mang một ý nghĩa độc đáo, ngôn ngữ Việt Nam chúng ta lại có những tiếng kép mà cả hai chữ đều có ý nghĩa riêng biệt chẳng hạn như ăn uống, ăn nói, ăn mặc hay ăn chơi. Không biết có phải vì cái "ăn" là đệ nhất khoái trong cõi người ta hay là vì một lý do nào đó mà tôi không biết, chứ tôi thấy chữ ăn đi vào rất nhiều trong ngôn ngữ Việt Nam như: ăn vóc học hay, ăn cây nào rào cây ấy, ăn làm, ăn đoong, chằn ăn trăn cuốn, ăn vụng, ăn chùng, ăn vã, ăn tục nói phét, ăn năn, ăn vạ, ăn như tằm ăn dâu, ăn xổi ở thì vv...

Trước đây tôi đã viết một bài về "Ăn sáng", bạn tôi đã phụ đính một bài về "Ăn trưa" lại thêm một bài nghiên cứu về "Ăn thịt chó" cho phù hợp với năm Bính Tuất. Sau đó thừa thắng xông lên tôi viết thêm một bài về "Ăn tục nói phét" rồi bạn tôi lại viết về "Ăn Tết" Biết bao nhiêu là thứ ăn nhưng tôi chỉ khoái nhất là cái thứ "ăn chơi". Còn nhớ một dạo một cửa hàng ăn của quận Cam nhờ quảng cáo là "Ăn chơi ngon hơn ăn thiệt" mà khách ra vào tấp nập, chủ nhân làm ăn phát đạt, nụ cười luôn nở trên môi. Thì ra ai cũng khoái chơi hơn là thiệt . Chữ "chơi" ở đây là phản nghĩa với chữ "thiệt". Biết rồi, khổ lắm nói mãi! Tôi chỉ muốn nói đến chữ "Chơi" viết hoa trong hai câu thơ:
"Chơi Xuân kẻo hết Xuân đi
Cái già xồng xộc nó thì theo sau"
Thử xem "chơi" nghĩa là gì nhỉ!
Lu bù!
Ôi thôi, loạn xà ngầu! Tiếng Việt Nam ta chữ "chơi" thường đi chung với chữ "đùa". Chơi đùa không mang một ý nghĩa trang nghiêm đứng đắn, chơi đùa là một cái gì phù phiếm, lăng nhăng. Người lớn cũng chơi đùa được mà con trẻ lại càng có thể chơi đùa hơn. Gần như chơi đùa là một thuộc tính của trẻ thơ: Chơi đùa phá phách hay phá phách đùa nghịch thì cũng mắm sốt! Chơi đùa là một hành động thiên về thể xác, một vận động tay chân không cần dùng đến trí óc nhiều. Tuy nhiên cũng có những trò chơi cần phải vận dụng trí óc, đòi hỏi sự thông minh chẳng hạn như "chơi chữ". Những lối chơi này thật là đa dạng và cần nhiều kiến thức. Phạm vi bài viết lăng nhăng này không thể bàn đến cái thứ chơi cao thâm này.

Thuở không còn là con nít nữa, cái thời mà mặt mày tuy vẫn còn non choẹt nhưng ở mép đã bắt đầu thoáng hiện một đường râu mờ mờ, trên đôi gò má đã lấm tấm những nốt mụn của tuổi dậy thì. Thời gian này là lúc mon men muốn làm người lớn, muốn tìm hiểu cái sự đời "đen như mõm chó, chém cha sự đời" Dạo đó tôi cũng như các bạn cùng lứa tuổi đã lén lút tìm đọc những cuốn sách giáo dục sinh lý như "Ái tình bửu giám", như "Người con gái sắp lấy chồng cần nên biết ". Chúng tôi đã lén lút đọc vì những loại sách này thuộc loại sách cấm đối với lứa tuổi chưa trưởng thành của chúng tôi.Chẳng bù với ngày nay, học sinh từ lớp 9 đã được giảng dạy về sinh lý, đã được khuyên bảo nên mang ông "Đại sứ Ca Bốt Lốt" mỗi khi đụng trận để tránh khỏi cảnh phải mang ba lô ngược từ đàng sau lưng ra trước bụng và để tránh các bệnh "Ếch nhái" vv... Thật thời đại văn minh khoa học tiến bộ có khác! Chúng tôi vào giai đoạn dậy thì đó trong đầu óc đã lảng vảng một từ ngữ "phù thuỷ" hấp dẫn như trái cấm trong vườn Địa Đàng. Đấy là chữ "CHƠI" viết bằng chữ hoa, một ám ảnh ngày đêm mà nếu không cao cường nội lực thì sa cơ thất thế, bỏ công đèn sách liền tút suýt. "Chơi" tiếng Pháp gọi là "Jouer" và tiếng Anh là "Play". Khi quân đội Mỹ chưa tham chiến trên quê hưong của chúng ta , chúng tôi chỉ biết chữ "jouer" thường đi chung với chữ "Papa" tức là "Jouer Papa", dịch nôm na từ chữ "Chơi cha" của chúng ta mà ra. "Chơi cha" tức là chơi trội , chơi vượt mức bình thường, có tính cách khác thường, chơi ngông, chơi qua mặt những thằng "con" vì mình là "Cha" mà lị ! Chơi kiểu công tử Bạc Liêu lấy tiền giấy đốt lên để cho người đẹp tìm chiếc kẹp tóc lỡ đánh rơi trong đêm tối. Chiếc kẹp chỉ đáng giá vài xu trong lúc một căn nhà thời bấy giờ chỉ cần vài chục đồng là có thể mua được. Thế mà nở lòng nào đem từng đồng tiền giấy đốt lên thì đúng là chơi ngông , chơi cha thiên hạ, là "Jouer Papa" rồi chứ gì nữa. Sau này khi quân đội đồng minh đến nước ta , bấy giờ chúng ta biết thêm được một từ ngữ nữa thật là hấp dẫn , mê tơi, ấy là "Playboy". Chuyền tay nhau xem say sưa tạp chí Playboy với hình ảnh các kiều nữ sexy, nghèo áo, nghèo quần, thật không có gì thích thú bằng, thuở mới lớn. Còn nhớ thời gian đó các cây viết phóng sự tiểu thuyết thời đại làm mưa làm gió trên các nhật báo và tuần báo. Họ đưa vào các câu chuyện của họ một thứ "sex" nhè nhẹ đủ để lôi cuốn bao nhiêu là độc giả tuổi choai choai trong đó dĩ nhiên có tôi. Tôi không nhớ ông Văn Quang hay ông nhà văn nào đã bắt đầu thiên phóng sự của ông bằng hai câu thơ theo kiểu câu dẫn nhập trong các truyện Tàu chia thành từng "hồi" và cứ mở đầu cho một hồi là có hai câu giới thiệu những gì sẽ xảy ra trong hồi đó như:

Giới Bài quan,Tiết Đinh San đột phá trùng vây
Nữ tướng Phàn Lê Huê, giữa trận tiền mê trai

Tôi thuộc nằm lòng hai câu mà cây bút phóng sự bắt đầu câu chuyện như thế này:

Thanh bình gặp buổi hôm nay
Thử chơi một phát ban ngày xem sao

Ông ta viết như thế thì làm sao mà không mê được! Nội chữ "Chơi" không thôi đã mang đầy đủ bùa phép làm say mê độc giả rồi, ông lại còn thêm "một phát" nữa thì có phải bao nhiêu nội lực trong đan điền phải căng cứng chực vỡ oà, tuôn tràn ra không . Thế vẫn còn chưa đủ hấp dẫn, ông ta lại còn thêm chi tiết thời gian trái cựa là ban ngày, ban mặt, giữa thanh thiên bạch nhật chứ không phải là như thông thường diễn ra "ban đêm, nhà tranh như nhà ngói". Tôi thấy văn chương mà khêu gợi chữ tình đến như thế là nhất ông ta rồi! Vừa thanh lại vừa tục, hay không chịu được! Không thanh sao được khi ông ta bắt đầu bằng chữ "Thanh bình" và "tục" đến mê tơi, đến lịm cả người khi ông xuống giọng "xề" bằng cách cám dỗ, dụ khị "Thử chơi một phát". Hỏi ai có thể cưỡng chống lại lời mời gọi đam mê này ?
Tôi không hiểu trong ca dao của ta khi viết: "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" thì chữ chơi có hàm ý như chữ chơi mà chúng ta hiểu ngày nay chăng. Thời xa xưa, ông Tú Xuơng cũng đã dùng chữ chơi như chúng ta hiểu trong thời đại Playboy như khi ông tự mô tả mình:

Vị Xuyên có gã Tú Xương
Giở giở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường

Trong văn chương bình dân, lác đác cũng có vài ba câu đề cập đến chữ "chơi" thời thượng như ngày hôm nay:
Có chồng càng dễ chơi ngang
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai.
Hay bạo gan, bạo phổi hơn:
Có chồng thì mặc có chồng
Còn đi chơi trộm, kiếm đồng mua rau
Cái món "ăn chơi" mô tả trong 4 câu ca dao trên đây thường được nôm na gọi là "Ăn vụng". Mà ăn vụng thì phải chùi mép cho kỹ để tránh lâm vào cảnh dĩa bay tan tác của chia ly hay là cảnh bị đá văng xuống giường ra nằm chuồng heo hay là nằm trên xô pha xem TV mệt nghỉ vì cái thứ ăn chơi này là một thói hư tật xấu của các đấng liền ông, con trai . Không ngờ trong văn chương bình dân lại có đề cập đến cái pha này mà lại do các thôn nữ diễn xuất. Kể cũng lạ thật! Thôn quê Việt Nam ta nhỏ bé tí teo, ra đường ngoài ngõ gặp nhau thường xuyên , biết mặt nhau ráo trơn, ráo trọi , tôi không hiểu làm thế nào mà các cô gái làng quê lại có thể lăng nhăng, lít nhít ăn vụng được. Thì ra ăn vụng không phải chỉ dành riêng cho tu mi nam tử mà giới "tè không qua ngọn cỏ" ở thôn quê cũng có thể vung vít được. Sau đây là một vài câu ca dao trong đó chữ "chơi" mang ý nghĩa nhẹ nhàng thanh tao nhưng cũng không kém phần hấp dẫn:
Đôi ta lấm tấm hoa nhài
Chồng đây vợ đấy kém ai trên đời
Muốn cho gần chợ ta chơi
Gần sông tắm mát, gần nơi đi về.
Trời mưa thì mặc trời mưa
Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi
Chồng tôi đi chơi đã có nón đội
Chồng tôi đi hội đã có dù che
Nghề chơi cũng lắm công phu, muốn chơi cho lăn lóc đá, cho người biết tay hay chơi cho lịch lãm râu mày thì bài loạn bàn này không thể nào bao giàn nổi .Tôi chỉ xin lạm bàn đôi chút về chữ "chơi" để gợi ý các bậc thức giả ngứa nghề mà ra tay đưa một đường nghiên cứu đầy đủ ngọn ngành, rành mạch từng chi tiết, có đầu đuôi tai nheo để bàn dân thiên hạ học hỏi thêm, để cùng trau dồi kiến thức. Để kết thúc tôi xin khuyên các bạn của tôi:
Bạn ơi tuổi đã hoàng hôn
Don't play too much , chờ tròn tuổi trăm .

Hoàng Lão Tà
2 Nov 2017

MC Nguyễn Ngọc Ngạn và những thứ

rác rưởi trong văn hoá Việt Nam



Trước năm 1975, văn học, văn chương, và văn hóa Việt Nam được thể hiện rõ nét cách biệt với các dòng văn học, văn chương và văn hóa của các nước khác. Điển hình là các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo đều được sự kính nể, nếu không bộc lộ ra ngoài, thì cũng được trân trọng một cách thầm kín trong chừng mực nào đó, để khi có cơ hội, thi cũng tỏ lộ ra một cách chững chạc, xứng đáng với vị trí của nhân vật nào đó trong văn đàn Việt Nam.

Tuy nhiên, sau 1975, tình hình khác hẳn. Có những nhà văn vẫn giữ khí tiết, thà chết trong tù, nhưng cũng không để tư cách mình xuống thấp. Lại có những người viết văn, làm thơ chuyên nghiệp biến thành văn nô, hay là những kẻ phản bội. Sang đến nước người, một số người được gọi là nhà văn cũng biến chất, thành kẻ nô lệ cho đồng tiền, tay sai cho ác quỷ Cộng sản.


Như Nguyễn Ngọc Ngạn. Người này từng được gọi là nhà văn vì cũng cho ra đời một số truyện dài, truyện ngắn, rồi bất chợt như cánh diều bay cao, khi lọt vào “hũ nếp” của Thúy Nga Paris. Từ đó, nhân vật đó nổi tiếng một cách phù phiếm trong giới văn nghệ, và cũng từ đó, mà các sản phẩm của anh ta được bán giá cao, để từ “nhà văn” biến thành “nhà giầu”, chơi với đủ loại trọc phú, ca sĩ giầu sang. Và cũng từ đó, mà nhân vật này bỗng biến thành một đống rác thối tha, khi làm nô lệ cho đồng tiền máu của Cộng Sản Việt Nam.

Ai cũng biết Thúy Nga Paris bây giờ sang tên đổi chủ, từ Tô Văn Lai, một “thầy giáo gian, giáo dở” và Tô Ngọc Thủy, một tay bài bạc khét tiếng, chuyển sang cho một lũ Cộng Con, tỷ phú làm giầu trên xương máu đồng bào, Từ đó mà Nguyễn Ngọc Ngạn biến thành môt tay “tà lọt”, nâng bi đội đĩa Cộng sản, thi hành nghị quyết 36 của công sản là phát triển văn hóa văn nghệ Xã Hội Chủ Nghĩa, Xếp hạng con Người, Xuống hàng Súc Vật.

Ai cũng biết chủ của Thúy Nga Paris bây giờ là một cặp “đại gia” nhóc tì, xây một cái biệt thự rắc rối, quanh co trong khu gần Bình Dương, với cái cỗng tam quan to đùng khắc chữ: “Thúy Nga Paris”. Bên trong, thì có một cái nhà dài, đề chữ: “Paris By Night” để họp bạn văn nghệ và Cán Bộ lãnh đạo từ Thành ủy đến Trung Ương.

Hãy tưởng tượng “nhà văn” Nguyễn Ngọc Ngạn bắt tay, bắt chân, “cụng ly hồ hởi” với những thứ rác rưởi như tên hề Hoài Linh, người mới vào Đảng, để lãnh danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân ưu tú”, ôm vai âu yếm tay khóc nhè Chế Linh, và một lô một lốc những ca sĩ, nhạc sĩ xuất thân từ lò Xã Hội Chủ Nghĩa.

Hãy tưởng tượng Ngạn nhận chỉ thị của những tên chủ nô mới: “Không được nói gì liên hệ đến bọn Ngụy nhe!” và Ngạn chỉ biết “Dạ! Thưa anh!”

Hãy nghe Ngạn giới thiệu những “Đại Gia” đỏ để giới thiệu trong chương trình:

“Đây là ông Tổng Giám Đốc Công Ty chuyên bán các sản phẩm “Nước” Việt Nam tặng 1000 đô!” hoặc: “Người bảo trợ tài chính cho Thúy Nga Paris số 109 là ông Trần Ích Tắc! Xin kính mời ông cho vài lời…” Sau đó, vào trong hậu trường, Ngạn xun xoe bắt tay các ông Tổng Giám Đốc chuyên bán Nước đó, để được dúi trở lại một phong bì…

Ngoài Nguyễn Ngọc Ngạn “tà lọt” của các đại gia CSVN, còn những thứ ca sĩ rác rưởi từng là tiếng ca thân ái của những tâm hồn yêu nghệ thuật của dân Việt Nam, bây giờ chỉ vì tiền, mà bán linh hồn cho quỷ.

Ngày 8 tháng 10 tới đây, người ta thấy danh sách những ca sĩ có tên trong chương trình Paris by Night 120, lẫn lộn nhiều loại sau đây:

-Đảng viên Cộng Sản Hoài Linh, ca sĩ “Hồi Chánh” Nguyễn Hồng Nhung, Bằng Kiều, Minh Tuyết.

– “Người iêu của lính” như Thanh Tuyền, Chế linh, Hương Lan, “gốc gác H.O.” Như Quỳnh, Phi Nhung, Mai Thiên Vân, Như Loan, Don Hồ.,

-Ca Nhạc Sĩ gốc VNCH Từ Công Phụng, Nguyễn Hưng, Đan Nguyên.

-Các ca sĩ trẻ mê tiền mà quên nguồn như: Ngọc Hạ, Ngọc Anh, Lam Anh, Tâm Đoan, Hương Thủy, Hạ Vy, Tóc tiên, Vũ Khanh, Đình Bảo, Mai Tiến Dũng, Thái Châu, Lương Tùng Quang, Thiên Tôn.

-Ca sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa: Hà Trần, Lam Anh, Diễm Sương, Hoàng Nhung, Hoàng Mỹ An, Ngọc Ngữ, Hoài Lâm, Mai Quốc Huy…

Trên hết và nham nhở trên hết là Nguyễn Cao Kỳ Duyên, từng làm người mẫu “nude” 100%, từng về Việt Nam mở quán cà phê, ôm vai những con mụ Tư Bản Đỏ, vợ, con, cháu của những tên bán nước Việt Nam.

Đủ một bộ sậu gồm những tên, như người xưa thường nói, “Xướng Ca Vô Loại…”


Chúng không thuộc loại nào cả, không Sĩ, không Nông, không Công, không phải Thương, mà chỉ là bọn nô lệ cho đồng tiền, bất kể chính kiến, bất chấp nước Việt đang bị Việt Cộng bán cho kẻ thù truyền kiếp là Trung Cộng.

Vậy mà cũng có khối người đi xem! Về khối người này, không biết xếp loại họ vào loại nào, thôi, chỉ đành gọi những người mua vé vào xem Thúy Nga Paris là bọn Vô Cảm, nếu không nói là “Tiếp tay với bọn Cộng Sản bán nước, hại dân”, tuy không trực tiếp nhúng tay vào máu dân lành, nhưng cũng đã giúp cho chế độ Cộng Sản này tồn tại trên phương diện văn hóa, thực hiện nghị quyết 36 của Cộng Sản, biến người hải ngoại thành người mù trước bản đồ đất nước bị cắt xẻ, người điếc trước tiếng kêu thét của dân oan đang bị đầu độc đến chết, đúng hơn là những người chết biết đi “Dead men walking”…

Thật tội nghiệp cho dân Việt ta đã tới ngày suy tàn không chỉ do bọn Cộng Sản mà còn do một số người mình vừa ngu vừa điếc.

Người lính già cô đơn Nguyễn Trần Việt Nam.
16 Oct 2017

Olivia De Havilland


Olivia De Havilland ngôi sao duy nhất còn lại trong ‘Cuốn theo chiều gió’ được nữ hoàng Anh phong tước Hiệp sỹ

Diễn viên cuối cùng còn lại trong dàn diễn viên nổi tiếng của phim “Cuốn theo chiều gió”, Olivia De Havilland, vừa tròn 101 tuổi năm nay. Bà có một sự nghiệp lừng lẫy ở Hollywood.

Trước sinh nhật tuổi 101 của mình, người nữ diễn viên hai lần đoạt giải Oscar, đã từ giã sự nghiệp diễn xuất gần 36 năm (3 thập kỷ), đã trở thành người lớn tuổi nhất được nữ hoàng anh phong tước Hiệp Sỹ khi bà được mời tham dự tiệc sinh nhật của nữ hoàng Elizabeth II.

Olivia de Havilland, hiện là một trong những diễn viên cuối cùng còn lại của “kỷ nguyên vàng Hollywood”, và của bộ phim “Cuốn theo chiều gió” sản xuất năm 1939, bộ phim giữ kỷ lục một trong ba phim đoạt nhiều giải Oscar nhất.

“Cuốn theo chiều gió” năm 1939 là một thiên anh hùng ca mô tả cuộc sống của người dân miền Nam nước Mỹ trong suốt cuộc nội chiến những năm 1861.

Trong bộ phim đoạt giải oscar này, Havilland thủ vai Melanie Wilkes, tình địch của nhân vật chính Scarlett O’Hara.

Nữ diễn viên gạo cội đã tham gia hơn 50 bộ phim trong suốt sự nghiệp diễn xuất của mình từ năm 1935 đến 1988, và hai lần nhận tượng vàng Oscar.

Bên cạnh “Cuốn theo chiều gió”, bà đóng chính trong bộ phim “Hang rắn” (Snake Pit) năm 1948; bộ phim giúp bà đoạt giải Oscar đầu tiên là phim “To each his own” năm 1946, và bà đoạt giải Oscar thứ hai với bộ phim ‘Nữ thừa kế” (The Heiress) năm 1949.

Trước khi mừng sinh nhật 101 vào cuối tháng sáu trước, bà đã được nữ hoàng Anh Elizabeth II phong tước Hiệp sỹ. Phát biểu với tạp chí People, bà rất tự hào vì mình là người già nhất từng được nhận vinh dự này.

Havilland nói đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất bà nhận được khi bước vào tuổi 101.

Lê Anh
9 Oct 2017

Nghề nuôi cua lột (soft shell Crab)


Công ty phân phối Tôm khô Saki tại Lafayette thuộc tiểu bang Louisiana, một trang trại nhỏ nuôi cua lột (soft shell Crab) của vợ chồng anh Toàn và chị Oanh của tại thành phố nhỏ New Iberia cũng thuộc Louisiana, để tận mắt thấy cách nuôi cua lột, thu hoạch loại cua đặc sản này.

Đây là loài cua xanh (blue crab) theo cách gọi của người Mỹ nhưng bà con người Việt mình vẫn quen gọi là con ghẹ. Loài cua này có vỏ cứng hơn con ghẹ một chút, thịt lấy ra chỉ khoảng bốn mươi phần trăm, chỉ khi nào gặp đúng thời điểm cua lột xác để tăng trưởng vòng đời, người sành ăn mới thưởng thức được trọn vẹn con cua.


Trang trại nuôi cua lột của anh Toàn

Phóng viên Trẻ: Chào anh Toàn. Xin lỗi đến trễ vì bị lạc đường. GPS trên xe đang chỉ đường ngon lành bỗng mất sóng, máy bảo vòng lại nhưng tôi biết vòng lại là đi lạc thêm lần nữa. Cứ tiếp tục hướng ra vùng duyên hải của thị trấn nhỏ New Iberia, có gì gọi anh ra dẫn đường là chắc ăn.

Anh Toàn: Không sao. Sáng nay tôi cũng có cái hẹn với khách hàng nhưng đã hẹn với báo Trẻ thì phải dời lịch hẹn. Hân hạnh được làm quen với quý báo lặn lội đường xa đến một vùng duyên hải thưa thớt dân cư để thăm trại cua lột của tụi tui.


Anh Toàn chủ trang trại đang giới thiệu chu trình nuôi cua lột


Phóng viên Trẻ: Chung quanh đây toàn trồng mía đường, chỉ nơi anh ở là khu gia cư, lại nuôi cua lột. Các ruộng nuôi cua đâu chẳng thấy mà chỉ có cái nhà giống trại nuôi gà công nghiệp thế này?

Anh Toàn: Ðó là trại nuôi cua. Làm ăn nhỏ mới được bốn năm nay thôi. Lúc trước vợ chồng tôi sống ở New Jersey làm công việc chia bài. Bây giờ tuổi sắp qua lục tuần rồi, chuẩn bị cho cuộc sống tuổi già, tạo cuộc sống nhẹ nhàng nên về đây chăn nuôi cua lột.

Chẳng qua ở đây tôi có mấy người bà con nên quyết định về vùng này. Nói là chuẩn bị cho tuổi già nhưng làm sao có được những điều mình mong muốn. Còn sống là còn làm việc, mà làm việc là để… kiếm tiền, chỉ khác là mình làm chủ lấy mình.

Con cái lớn rồi, lập gia đình sống ở thành phố lớn, tụi nó đâu có chịu về nơi khỉ ho cò gáy này. Hai vợ chồng tôi mua mảnh đất rộng hơn một mẫu tây, khai phá làm trại nuôi cua lột.
Tuy là vùng thôn quê nhưng ở đây là khu gia cư do vậy chuyện chăn nuôi sản xuất tôi phải xin phép thành phố. Ðược thành phố chấp thuận nên tiến hành nhanh xây dựng trang trại.

Ðống cát đá kia đang chuẩn bị xây dựng một phòng trữ lạnh lớn cho kế hoạch mở rộng trong tương lai sắp tới.


Cua chuẩn bị lột có vòng chân ở mái chèo màu đỏ


Phóng Viên trẻ: Anh nói khai phá mảnh đất là như thế nào?

Anh Toàn: Là vì nơi đây nguyên là một mảnh đất toàn cây cổ thụ, cỏ voi đầy cả, ngoại trừ căn nhà mobile nằm trơ trọi phía trước. Một mình tôi cùng vài ba anh em phụ giúp cưa đốn cây, dọn dẹp mảnh đất này để sắp xếp dựng lên các khu vực chăn nuôi sản xuất kinh doanh và tận dụng phế phẩm xác cua lột làm thức ăn chăn nuôi gà vịt thả chuồng để làm thực phẩm cho gia đình.

Phóng viên trẻ: Nhìn bên ngoài trại cua thì tôi mới thấy mình “bé cái lầm” cứ nghĩ theo kiểu nuôi truyền thống trên ao ruộng đất tự nhiên như nhiều người nuôi cua lột ở quê nhà trước đây.

Anh Toàn: Tôi nuôi theo dạng công nghiệp khép kín, sản xuất cua lột bán ngay, vòng quay nhanh vì mùa cua đánh bắt từ biển ngư dân mang về chỉ trong vòng 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 10). Do đó những tháng còn lại xem như thời gian ngư nhàn. Tôi cũng vậy, làm gì trong thời gian nhàn rỗi đó. Mấy cái lồng bẫy cua tôi làm thử ở đằng kia kìa thấy không.
Kiếm không bao nhiêu nhưng làm thêm được đồng nào hay đồng nấy. Bây giờ mình vào xem cua.


Hai con cua đang thi nhau lột, chỉ 3 phút thôi sẽ trút bỏ lớp xác cũ để lớn thêm khoảng 1 inch.

Phóng viên Trẻ: Nhìn sơ qua có chừng 24 khay. À còn dàn khay bên trong sao không nuôi luôn cho nhiều?

Anh Toàn: Bao nhiêu đây, hai vợ chồng tôi chăm sóc cũng đủ phờ người. Nuôi cua lột phải thức canh chúng hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Hai người chia ca, kẹt nhất là buổi tối, chợp mắt được chừng tiếng đồng hồ là phải ra lượm cua mới lột để riêng một khay chờ đưa vào phòng lạnh để trữ, lơ đễnh không lượm kịp cua có thể chết vì bị mấy con cua chưa lột va chạm chân càng làm nó bị thương tích. Toàn bộ cua trong khay đều là cua sẽ lột trong tuần. Một khay như vầy có thể nuôi được trên 150 con.


Cua đã lột vỏ ở phía trước nhỏ hơn con cua mới hình thành sau khi thoát xác.

Phóng viên Trẻ: Cua đực cua cái, cua lớn cua nhỏ đều lột được hết sao hay là phải nuôi chúng từ lúc còn nhỏ cho đến khi trưởng thành?

Anh Toàn: Nuôi kiểu thủ công vậy làm sao kiếm được lợi tức. Mình chuyên sản xuất cua lột chứ không nuôi cua cứng (vỏ đã cứng). Cua sau khi lột trong vòng 48 tiếng đồng hồ là vỏ cua hình thành chất vôi làm cho vỏ bắt đầu trở nên cứng. Cho nên phải lượm ra để riêng chừng một ngày rồi đem cất bảo quản. Chút nữa mình vào phòng bảo quản xem cho biết.

Nuôi cua lột kiểu công nghiệp như vậy, nguồn thu mua từ các ngư dân từ biển đem về. Cua phải mạnh khoẻ và chuẩn bị lột, mình lựa ra, mua đem về thả nuôi trong khay chừng hai ngày sau là chúng bắt đầu lột. Chậm nhất là sau năm ngày số cua còn lại phải lột hết. Sau đó, quy trình chăn nuôi cứ tiếp tục như vậy. Xem có bấy nhiêu khay vậy thôi, tính ra sáu tháng trại tôi cũng xuất ra bán quay vòng được chừng 60,000 con.


Cua sau khi lột đem trữ phòng lạnh có thể giữ được cua sống 7 ngày, sau khi tiêu thụ không hết thì đem đông lạnh.

Phóng viên Trẻ: Ồ, một con số không nhỏ. Thế làm sao biết trong đám cua tàu đánh mang về con nào sẽ lột con nào không. Cua thương phẩm bình thường bán ra thị trường cũng chỉ có ba cỡ: nhỏ, vừa, lớn. Vậy cua lột cũng có các kích cỡ như vậy hay sao. Và nuôi cua lột chẳng cần phải cho chúng ăn vì khi lột xong một ngày là đã bắt bán rồi?

Anh Toàn: Ðúng. Từ khi cua còn nhỏ xíu cho đến khi lớn trải qua năm bảy lần lột xác. Khi đánh bắt vào bờ thường là trưởng thành. Nhưng trong giai đoạn này cua còn lột đến ba lần.

Từ nhỏ đến lớn, đặc biệt là “X-large”. Nuôi cua lột chẳng cần tốn thức ăn vì mình đâu có nuôi cua cứng. Ðể nhận biết những cua sẽ lột trong nay mai thì hãy nhìn vào chân cuối (mái chèo) của con cua. Ở đốt chân cùng có chấm màu đỏ và vòng quanh đốt chuyển màu đỏ là biết cua sẽ lột. Cho nên khi tàu cua về họ cho mình lựa trước để mua về nuôi. Vì vậy giá một con trung bình khoảng $1.40. Khi nuôi thành cua lột bán ra từ 3 đến 4 đô mỗi con mà chỉ mất thời gian năm ba ngày là thành cua lột.


Chị Oanh đang trổ tài chiên cua lột đãi khách.

Phóng viên Trẻ: Như vậy công việc nuôi cua lột có dễ không. Thấy đám cua lặng lẽ ngo ngoe trong khay chờ bắt ra bán lấy tiền thấy dễ như ăn cua lột.

Anh Toàn: Thấy dễ nhưng không dễ ăn chút nào. Lần đầu tôi gặp thất bại, cua chết vì nhiều nguyên do. Tôi tự mày mò tìm hiểu để cuối cùng có được như hôm nay. Ðây này, xem con cua đang lột, trong vòng hai ba phút nữa thôi nó sẽ thoát xác. Cua thoát xác bình thường thôi nhưng cũng có khi trục trặc vì khi thoát mình ra khỏi xác có khi bị vướng càng, mình sẽ làm động tác giống như bà đỡ đẻ, dùng tay gỡ giúp cua thoát xác nhanh. Riêng chuyện để cua thoát xác tự nhiên cũng là điều tôi rút ra được khi nhìn con rắn đang lột xác quấn trên cây.

Nhưng cho phép tôi giữ “bí mật” nghề nghiệp này. Chuyện nguồn nước muối, xây dựng khay nuôi, xịt khí oxy, bảo quản thành phẩm thì công thức, phương pháp đã nhiều người biết.


Tỷ lệ sao cho cua thoát xác sống 100% mới là chìa khoá thành công. Bây giờ sang kho lạnh xem cua chờ mối lái nhà hàng đến thu gom. Một con cua nhà hàng chế biến lên dĩa trưng bày cho thực khách có giá đến 25 đô một con. Con cua lột cỡ lớn nhất tôi bán có hơn 4 đô thì thấy nhà hàng lời ngon hơn người chăn nuôi như tụi tôi.

Sẵn kêu bà xã tôi chiên một mớ để cả nhà ăn thử món cua lột. Ðặc biệt, cua thành phẩm trang trại sản xuất không mặn vì tỷ lệ nước muối thả nuôi cua vừa phải, vì thế mà mối lái nhà hàng của tôi rất thích.


Hai vợ chồng rạng rỡ sau bốn năm xây dựng thành công trang trại nuôi cua lột và ấp ủ dự định mở rộng cơ sở.

Phóng viên Trẻ: Anh có dự định phát triển nào khác ngoài cua lột?

Anh Toàn: Dự định thì có nhưng liệu sức làm được bao nhiêu. Trước mắt xây kho lạnh thu mua cá đù đen loại lớn bán cho nhà hàng xẻ phi lê, làm lồng cua,… và đặc biệt là nuôi crawfish lột. Tôi đã thử nghiệm nuôi thành công con crawfish lột. Loại này thịt chỉ ăn được có cái mình. Crawfish lột xơi trọn ngon không thua gì cua lột. Khi nào tôi thực hiện nuôi crawfish lột xin mời báo Trẻ đến xem..

Phóng viên Trẻ: Cám ơn anh Toàn và chị Oanh chiêu đãi món cua lột. Rất ngon không mặn chút nào, thịt ngọt.

Quý vị có nhu cầu liên lạc số phôn: 609-350-4180 hoặc website: T&L Softshell Crab INC. Xin chúc cơ sở của anh chị làm ăn luôn thành công.




Ngọc Linh
Last Visitors


12 Feb 2009 - 9:59


21 Jan 2009 - 11:14


25 Aug 2008 - 8:59


24 Aug 2008 - 22:16


13 Aug 2008 - 21:03

Comments
Other users have left no comments for lalan.

Friends
There are no friends to display.
Lo-Fi Version Time is now: 21st February 2018 - 02:30 PM