Welcome Guest ( Log In | Register )

Profile
Personal Photo
Options
Options
Personal Statement
AnAn doesn't have a personal statement currently.
Personal Info
AnAn
Bảo vệ Tổ Quốc
Age Unknown
Gender Not Set
Location Unknown
Birthday Unknown
Interests
No Information
Other Information
Country: Germany
Statistics
Joined: 12-November 08
Profile Views: 8,364*
Last Seen: Private
Local Time: Apr 22 2018, 11:31 PM
5,918 posts (2 per day)
Contact Information
AIM No Information
Yahoo No Information
ICQ No Information
MSN No Information
* Profile views updated each hour

AnAn

Năng Động

***


Topics
Posts
ibProBattle
Recent wiki edits
Arcade
Blog
Shared Photos
Comments
Friends
My Content
9 Apr 2018

Thụy Sĩ _ Đất nước đa ngôn ngữ


Tính đa ngôn ngữ đối với người Thụy Sĩ thì như phép lịch sự đối với người Anh hay phong cách đối với người Ý: niềm tự hào dân tộc.

Đó là một trong những chuyến tàu ngắn nhất mà tôi từng đi: chỉ bảy phút và một trạm đỗ sau thành phố Neuchâtel của Thụy Sĩ. Ấy vậy mà khi tôi vào thị trấn Erlach, mọi thứ dường như khác đi. Mới đầu, tôi ngỡ ngàng. Có thể là do kiến trúc? Hay là người dân khi nói phải ra hiệu? Thậm chí không khí, khô và lạnh lạ lùng kiểu Thụy Sĩ, hình như cũng thay đổi.

Tôi đi bộ một lúc, ngơ ngác. Mình đang còn trên đất Thụy Sĩ mà. Đã qua biên giới quốc tế.


Trong số 26 bang của Thụy Sĩ, có 17 bang nói tiếng Đức

Rồi tôi liếc nhìn biển tên phố, và vỡ nhẽ. Tôi đã vô tình vượt qua Röstigraben, một thuật ngữ vui để nói đường ngăn cách vô hình của vùng đất nói tiếng Đức với tiếng Pháp của Thụy Sĩ.

Röstigraben có nghĩa là hào hay bức màn ngăn rösti. Thuật ngữ này có từ thế chiến thứ nhất, khi mà lòng trung thành của Thụy Sĩ được chia theo đường phân cách ngôn ngữ. Rösti là một món ăn truyền thống của người Đức Thụy Sĩ, gồm nhiều khoai tây chiên, đôi khi với thịt xông khói, hành tây và pho mát. Về địa dư, Röstigraben gần như bám theo sông Saane . Tuy nhiên bạn sẽ không thấy nó trên bản đồ. Đó là một đường biên trong tâm trí, mặc dù nó in sâu trong tâm trí người Thụy Sĩ từ thuở nhỏ.


Giống như các loại biên giới khác, Röstigraben không bị vượt qua một cách nhẹ nhàng hoặc vô tình, ngoại trừ những người nước ngoài như tôi. Theo một cuộc khảo sát gần đây của Viện nghiên cứu Sotomo thay mặt cho công ty viễn thông Swisscom, gần một nửa số người Thụy Sĩ nói tiếng Đức chỉ vượt đường phân chia này mỗi năm một lần, và 15% chưa bao giờ vượt qua.

Vượt qua Röstigraben "có vẻ giống hơn cả việc di cư tạm thời đến một nơi nguy hiểm, nơi mà bạn sẽ không hiểu người ta nói gì," Manuela Bianchi, giám đốc điều hành phi lợi nhuận của Thụy Sĩ, nói nửa đùa với tôi.


Câu chuyện của bà là điển hình Thụy Sĩ, nghĩa là không điển hình chút nào.

Với bố nói tiếng Ý và mẹ nói tiếng Đức, bà nói cả 2 tiếng đó ở nhà, thêm tiếng Pháp và tiếng Anh ở trường. Vâng, cách dùng đa ngôn ngữ ở Thụy Sĩ có thể đôi khi là phiền toái (hầu hết các sản phẩm thực phẩm phải liệt kê thành phần bằng 3 thứ tiếng) nhưng nhìn chung bà coi đó là "một phước lành tuyệt vời". Tính đa ngôn ngữ đối với người Thụy Sĩ thì như phép lịch sự đối với người Anh hay phong cách đối với người Ý: niềm tự hào dân tộc. Mặc dù, theo kiểu thời trang Thụy Sĩ điển hình, nó là một niềm tự hào tinh tế. Phải là một người Thụy Sĩ mới có thể khoe về khả năng ngôn ngữ của mình, hoặc bất cứ điều gì khác về vấn đề này.

Khi nghĩ về biên giới, thường người ta nghĩ ngay đến đường phân chia chính trị, một đường biên cứng, thậm chí có thể là một bức tường, ngăn cách 2 quốc gia. Đó là một loại biên giới. Nhưng còn có những biên giới khác nữa: biên giới văn hoá; biên giới ngôn ngữ; biên giới trong tâm trí. Không ai rõ điều này hơn người Thụy Sĩ. Biên giới của họ là sự hỗn độn về ngôn ngữ và văn hoá mà, kỳ diệu thay, chúng ràng buộc nhau, và như mọi thứ khác ở Thụy Sĩ, hoạt động một cách hoàn hảo, hoặc gần như vậy.


Thụy Sĩ chịu ảnh hưởng ít bởi những rạn nứt mà nó gây rắc rối cho những nước đa ngôn ngữ khác như Bỉ và Canada. Họ làm thế nào vậy?

Tiền chắc chắn giúp được. Thụy Sĩ là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới với truyền thống lâu đời về quy tắc dân chủ: một kiểu dân chủ đặc biệt với nhiều cuộc trưng cầu dân ý và một liên bang của các bang, hoặc tỉnh, tự trị ở mức độ cao. Tất cả đều được tập hợp cùng nhau trong cái mà người Thụy Sĩ gọi là 'Willensnation'. Nó có nghĩa đen là một 'quốc gia đồng lòng', nhưng ở Thụy Sĩ, từ này mang một ý nghĩa đặc biệt, 'một quốc gia sinh ra với mong muốn được sống cùng nhau'.


Lịch sử, như thường lệ, cũng giải thích được nhiều. Tính đa ngôn ngữ của Thụy Sĩ xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước, rất lâu trước khi quốc gia thống nhất ngày nay tồn tại. Khu vực này nằm ở giao lộ của nhiều nhóm ngôn ngữ, địa hình đồi núi tạo thành các rào cản tự nhiên giữa các nhóm này. Từ 7.000 năm trước, Thụy Sĩ "ở giữa mọi thứ, và cũng ở bên lề của mọi thứ," theo Laurent Flutsch, nhà quản lý tại Bảo Tàng Khảo Cổ Vindonissa ở Brugg, người gần đây đã đưa ra một cuộc triển lãm mang tên "Röstigraben - Thụy Sĩ hợp thành như thế nào?". Khi Thụy Sĩ hiện đại được thành lập vào năm 1848 thì các biên giới ngôn ngữ đã được hình thành rồi.


Có bốn ngôn ngữ Thụy Sĩ chính thức: tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và Romansh, một ngôn ngữ bản xứ với vị thế hạn chế, tương tự như tiếng Latinh và chỉ có một nhóm nhỏ người sử dụng ở Thụy Sĩ. Ngôn ngữ thứ năm, tiếng Anh, ngày càng được sử dụng để làm cầu nối cho sự tách biệt ngôn ngữ. Trong một cuộc điều tra gần đây của Pro Linguis, 3/4 số người được hỏi cho biết họ sử dụng tiếng Anh ít nhất ba lần một tuần.

Ở nước Thụy Sĩ lắm ngôn ngữ này thì ngay cả sự phân chia ngôn ngữ cũng bị phân chia. Những người trong các bang nói tiếng Đức thì nói tiếng Đức Thụy Sĩ ở nhà nhưng học tiếng Đức chuẩn tắc ở trường. Tiếng Ý nói ở bang Ticino xen lẫn nhiều từ mượn của tiếng Đức và Pháp.


Sự phân chia văn hoá giữa người Thụy Sĩ nói tiếng Ý và phần còn lại của đất nước được đánh dấu bởi ‘Polentagraben'.

Ngôn ngữ có thể không phải là số mệnh, nhưng nó xác định nhiều hơn là những từ chúng ta nói. Ngôn ngữ điều khiển văn hoá, và văn hoá điều khiển cuộc sống. Theo nghĩa đó thì Röstigraben là biên giới văn hoá nhiều hơn là biên giới ngôn ngữ. Cuộc sống ở hai bên của sự phân cách bộc lộ theo nhịp độ khác nhau, Bianchi giải thích. "Theo tôi, những người nói tiếng Pháp thì thoải mái hơn. Một ly rượu trắng cho bữa trưa vào ngày làm việc vẫn là khá bình thường. Người nói tiếng Đức ít có đầu óc hài hước, và tuân thủ các quy tắc vượt quá cả sự khắt khe của người Nhật."


Sự phân chia văn hoá giữa người Thụy Sĩ nói tiếng Ý và phần còn lại của đất nước (một phân chia được đánh dấu bởi cái gọi là Polentagraben) lại còn sâu sắc hơn thế. Những người nói tiếng Ý là những người rõ ràng là thiểu số, chỉ chiếm 8% dân số và chủ yếu sống ở bang Ticino mãi tận phía nam. "Lần đầu tiên khi tôi đến đây, mọi người bảo tôi 'Ticino giống như ở Ý, ngoại trừ một điều là mọi việc đều trôi chảy', và tôi nghĩ điều đó là đúng," Paulo Goncalves, một học giả Brazil đã sống ở Ticino trong thập kỷ qua, nói.

Đến từ một quốc gia có một ngôn ngữ chính thức, Goncalves kinh ngạc trước cách tung hứng bốn ngôn ngữ của người Thụy Sĩ. "Thật là tài tình làm sao mà họ có thể xoay xở được như vậy," ông nói khi nhớ lại lần đi dự một hội nghị với sự tham dự của những người nói tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý và tiếng Anh. "Bạn được nghe thuyết trình bằng 4 thứ tiếng khác nhau trong cùng một hội trường."


Sống trong một môi trường đa ngôn ngữ như vậy "thực sự định hình lại cách tôi nhìn thế giới và tưởng tượng những triển vọng," Goncalves nói. "Nay tôi là một người khác biệt đáng kể so với cách đây 10 năm."

Các ngôn ngữ của Thụy Sĩ không phân bố đều. Trong số 26 bang của nước này, đa số bang (17) nói tiếng Đức, trong khi 4 bang tiếng Pháp và 1 bang tiếng Ý. (Ba bang là song ngữ và một bang, Grisons, ba ngôn ngữ.) Đa số người Thụy Sĩ, 63%, dùng tiếng Đức là ngôn ngữ số 1.

Phần lớn những gì mà thế giới gán cho tính Thụy Sĩ, những đặc tính như đúng giờ và kín đáo, thực tế là những đặc tính của người Đức Thụy Sĩ. Tiếng và văn hoá Đức-Thụy Sĩ có xu thế chiếm ưu thế, đặc biệt là trong thế giới kinh doanh. Đó là nguồn gốc của một số bất đồng, Christophe Büchi nói, tác giả của một cuốn sách về lịch sử biên giới vô hình về ngôn ngữ của Thụy Sĩ.

"Nhưng chủ nghĩa thực dụng mà nó chi phối chính trị Thụy Sĩ có thể sẽ giải quyết được vấn đề này."

Ngôn ngữ quốc gia thực sự của Thụy Sĩ, ông nói, là sự hòa giải.


Eric Weiner
27 Mar 2018

Bằng lái xe “Real ID”


- Bắt đầu từ ngày 22/1/2018, du khách không có bằng lái xe hay căn cước hợp pháp mới “Real ID” sẽ phải xuất trình một trong các chứng từ như sổ hộ chiếu Hoa Kỳ, thẻ hộ chiếu Hoa Kỳ, thẻ DHS do Bộ Nội An cấp, thẻ quân nhân Mỹ, thẻ thường trú, thẻ đi qua biên giới, bằng lái xe đặc biệt, ID liên bang cấp, thẻ PIV HSPD-12, hộ chiếu do chính phủ nước ngoài cấp, bằng lái xe Canada hoặc Ấn Độ, thẻ quốc tịch Mỹ, thẻ I-766 hay thẻ giao dịch thương mại do Hoa Kỳ cấp khi đi qua trạm kiểm tra an ninh phi trường.

- Bắt đầu từ ngày 1/10/2020, tất cả du khách sẽ cần phải có bằng lái xe hay căn cước loại “Real ID” hoặc một giấy nhận dạng khác được chấp nhận khi đi máy bay nội địa.

Nếu bạn cư ngụ trong 9 tiểu bang (Kentucky, Maine, Minnesota, Missouri, Montana, Oklahoma, Pennsylvania, South Carolina và Washington) chưa cấp bằng lái xe cập nhật với hệ thống an ninh liên bang REAL ID, bạn có thể xin cấp hộ chiếu Hoa Kỳ trước thời hạn 22/1/2018 là hạn chót sử dụng bằng lái xe cũ khi đi máy bay.

Trên thực tế, 2 tháng tới là thời gian lý tưởng để xin hộ chiếu Hoa Kỳ mới. Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 10 và tháng 11 thường có số đơn xin hộ chiếu ít nhất. Trong thời gian này, bạn có thể nhận được hộ chiếu mới sớm hơn thường lệ từ 4 đến 6 tuần.

Cơ quan Kiểm tra An ninh đưa ra thông báo tại các phi trường nhắc nhở du khách nên xin cấp Real ID mới, ngay cả khi bạn đi du lịch trong nước Mỹ, bạn cần phải có thẻ Real ID.

Theo nguyệt san Travel & Leisure, Ðạo luật REAL ID đã được thông qua từ thập kỷ trước để kiểm tra an ninh phi trường

Các tiểu bang phải xác nhận danh tính của mọi người nộp đơn xin cấp thẻ Real ID, cộng thêm các tính năng mới như kỹ thuật chống giả mạo và cung cấp kiểm tra lý lịch để nhân viên cơ quan DMV (Department of Motor Vehicles) cấp bằng lái xe hay thẻ Real ID.

Hiện nay, chỉ có 24 tiểu bang và Quận Columbia có thể cấp REAL ID theo đúng tiêu chuẩn liên bang và các tiêu chuẩn khác.

Các cơ quan lập pháp tiểu bang đang thảo luận về các luật để bảo đảm rằng Real ID của tiểu bang được cập nhật đúng tiêu chuẩn liên bang, nhưng tiến trình này có thể gặp khó khăn. Bộ An ninh Nội địa sẽ tiếp tục hợp tác với các tiểu bang và có thể gia hạn nếu cần và họ sẽ cập nhật các bảng thông báo tại những phi trường nếu có gì thay đổi.

Nhưng tốt hơn hết là bạn nên có một hộ chiếu Hoa Kỳ cùng với bằng lái xe cũ còn hiệu lực xuất trình cho nhân viên TSA (Transportation Security Administration) kiểm tra tại phi trường. Nếu bạn muốn kiểm tra tình trạng của các Real ID trong tiểu bang của bạn, bạn có thể xem trang web của DHS tại _https://www.dhs.gov/real-id-enforcement-brief.

Tuy nhiên, Real ID không cần thiết cho những sự việc:

– Ði vào các cơ sở liên bang không đòi hỏi người phải xuất trình giấy tờ tùy thân.

– Ði bỏ phiếu hoặc ghi tên bầu cử.

– Nộp đơn hoặc nhận trợ cấp liên bang.

– Xin cấp bằng lái xe cấp tiểu bang.

– Sử dụng các dịch vụ y tế, sức khoẻ tại bệnh viện và phòng khám bệnh, trình báo nhân viên công lực hoặc các hoạt động được bảo vệ theo hiến pháp khi có tố tụng tại tòa án.

– Nộp đơn xin làm việc tại những cơ quan chính phủ.


MH – Theo travel.state.gov 10/2017
27 Mar 2018

Gina Haspel - 'bông hồng máu' của CIA


Gina Haspel, người đang giữ chức vụ Phó Giám đốc CIA mới được Tổng thống Mỹ đề cử lên nắm giữ vị trí số một ở cơ quan Tình Báo Trung Ương này, thời gian qua được báo giới cả trong và ngoài nước Mỹ đề cập tới như một ngôi sao trong giới tình báo dù dính phải không ít bê bối liên quan tới chương trình tra tấn ép cung tội phạm.

Nữ giám đốc đầu tiên của CIA?

Chỉ 1 năm sau sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001, Cơ quan Tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã giao cho mật vụ ngầm Gina Haspel quản lý một nhà tù bí mật ở Thái Lan. Ngay sau đó, cơ quan này đã áp dụng hàng loạt hình thức tra tấn dã man đối với một nghi phạm al-Qaeda.
Khoảng thời gian mà bà Haspel vận hành nhà tù này, có mật danh “Mắt mèo”, cũng là thời điểm bắt đầu sự dính líu sâu rộng của bà đến các chiến dịch chống khủng bố của CIA và cho thấy vị sỹ quan kỳ cựu này sẵn sàng tham gia vào chương trình bắt giữ và hỏi cung, từ đó mà hình thành sự nghiệp của bà. Trong chương đen tối trong lịch sử bị công khai của CIA thì bà Haspel lại nổi lên như một ngôi sao trong cộng đồng tình báo. Nhưng dưới thời Tổng thống Donald Trump, vận may đã đến với bà khi ông Trump tuyên bố sẽ chỉ định bà vào chức vụ Giám đốc CIA. Bằng việc thăng chức cho bà Haspel, hiện đang giữ chức Phó Giám đốc CIA, Tổng thống Trump dường như đã phớt lờ làn sóng phản đối việc sử dụng các hình thức tra tấn và ép cung dã man mà CIA đã áp dụng trong hơn một thập kỷ trước. Sự bổ nhiệm của bà được cho là sẽ chắc chắn làm bùng nổ cuộc tranh luận gay gắt về việc sử dụng các đòn tra tấn gây tổn thương tâm lý trầm trọng cho các nghi phạm khủng bố. Ở Mỹ, dù giới lập pháp, các nhà hoạt động nhân quyền cùng nhiều người khác đã lên án các biện pháp tra tấn, nhưng chương trình này cũng có những người ủng hộ. Một trong số đó chính là Tổng thống Trump, người từng tuyên bố trong chiến dịch tranh cử rằng sẽ áp dụng trở lại hình thức “trấn nước” một lần nữa, và nói rằng “tra tấn là có hiệu quả”. Gina Haspel, 61 tuổi, sẽ trở thành người phụ nữ đầu tiên vận hành CIA nếu như được Thượng viện Mỹ phê chuẩn. “Bà ấy là một nhân vật xuất sắc, người mà tôi biết rất rõ”- ông Donald Trump từng nói về bà Haspel sau khi tuyên bố sẽ chỉ định bà vào vị trí người đứng đầu CIA.


Bà Gina Haspel được các cựu đặc vụ CIA và đặc vụ FBI mô tả là một chuyên gia tình báo đầy cứng rắn, thẳng thắn và có quan điểm chính trị vững chắc; người có kinh nghiệm giải quyết các vấn đề khó khăn trong quan hệ với các cơ quan tình báo nước ngoài, và cả việc hợp tác với FBI. Bà Gina Haspel đã có sự nghiệp thành công trong một cơ quan vốn được thống trị bởi đàn ông. Sau khi gia nhập CIA vào năm 1985, bà đã làm việc trong bộ phận Trung Âu. Kể từ đó, bà Haspel liên tục di chuyển tới nhiều nước, bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Á, và làm trưởng một văn phòng của CIA ở New York sau khi trùm khủng bố Osama bin Laden bị tiêu diệt.
(Photo: CNN/Screenshot)

Không được lòng giới lập pháp

Trong quá trình điều trần trước Thượng viện, bà Haspel sẽ phải trả lời những câu hỏi gai góc về các hình thức tra tấn và cách mà bà đối xử với tù nhân. Bà cũng sẽ phải trả lời câu hỏi liệu có ủng hộ việc áp dụng lại các hình thức tra tấn nếu được Tổng thống yêu cầu hay không và bà có tin rằng tra tấn là cách hữu hiệu để thu thập thông tin từ nghi phạm không?
Giới Thượng nghị sỹ vốn có quan điểm lên án chương trình hỏi cung có thể là chướng ngại trong con đường thăng tiến của bà Haspel. Thượng nghị sỹ Dianne Feinstein thuộc đảng Dân chủ và là cựu Chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện, từng dẫn đầu một cuộc điều tra chương trình hỏi cung của CIA. Bản báo cáo mà bà đưa ra năm 2014 cho thấy chương trình này có nhiều lỗ hổng nghiêm trọng, những người có liên quan lại cho rằng nó hiệu quả hơn là thực tế cho thấy, điều khiến giới lập pháp bị che mắt. Trong bản báo cáo đó, vai trò của bà Haspel trong chương trình hỏi cung đã bị che đậy. Thượng nghị sỹ John McCain thuộc đảng Cộng hòa trong tuần này đã yêu cầu bà Haspel phải công khai giải thích về vai trò của bà trong chương trình hỏi cung. “Việc tra tấn tù nhân bị bắt giữ trên lãnh thổ Mỹ trong thập kỷ vừa qua là một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử nước Mỹ”- ông McCain viết trên Twitter -“Thượng viện cần phải làm rõ sự dính líu của bà Gina Haspel trong chương trình đáng xấu hổ này”.

Bê bối tiêu hủy vật chứng

Bà Haspel cũng dính líu tới một vụ bê bối khác liên quan tới chương trình tra tấn của CIA.
Vào năm 2005, Jose Rodriguez, người lúc bấy giờ đang quản lý các chiến dịch ngầm của CIA, đã chỉ thị cho cấp dưới tiêu hủy các đoạn băng ghi hình lại cảnh “trấn nước” các tù nhân để ép cung. Bà Haspel, lúc bấy giờ là trưởng văn phòng của ông Rodriguez, là người ủng hộ mạnh mẽ việc tiêu hủy các đoạn băng này; theo lời khai của một số cựu quan chức CIA. Vài năm sau đó, khi CIA muốn chỉ định bà Haspel vào chức vụ thay thế ông Rodriguez, bà Feinstein chính là người ngăn chặn đề xuất này do vai trò của bà Haspel trong chương trình tra tấn và vụ tiêu hủy vật chứng nói trên. Bà Amy Jeffress, cựu cố vấn an ninh quốc gia của Tổng chưởng lý Eric H. Holder, thì lại đứng ra bảo vệ bà Haspel. “Bà ấy có thể bị chỉ trích vì vai trò trong chương trình hỏi cung, nhưng theo kinh nghiệm làm việc với bà ấy trước đây của tôi, bà ấy đã nhận ra sai lầm đó và sẽ là một vị lãnh đạo sáng suốt của CIA”- bà Jeffress nói. Chính vì các vụ bê bối này và quan điểm ủng hộ chương trình hỏi cung của mình mà bà Haspel bị gắn cho biệt danh “bông hồng máu” của CIA.

Người vận hành các chiến dịch ngầm

Bà Haspel được các cựu đặc vụ CIA và đặc vụ FBI mô tả là một chuyên gia tình báo đầy cứng rắn, thẳng thắn và có quan điểm chính trị vững chắc. Bà từng có kinh nghiệm giải quyết các vấn đề khó khăn trong quan hệ với các cơ quan tình báo nước ngoài, và cả việc hợp tác với FBI.
Nhìn chung thì Gina Haspel đã có sự nghiệp thành công trong một cơ quan vốn được thống trị bởi đàn ông. Sau khi gia nhập CIA vào năm 1985, bà đã được bổ nhiệm tới làm việc trong bộ phận Trung Âu. Kể từ đó, Haspel liên tục di chuyển tới nhiều nước, bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Á, và làm trưởng một văn phòng của CIA ở New York sau khi trùm khủng bố Osama bin Laden bị tiêu diệt. Bà Haspel từng nắm giữ 2 trong số 3 công việc quan trong nhất của phòng chiến dịch ngầm và 2 lần lãnh đạo cơ sở của CIA tại London (Anh). Tuy nhiên, vai trò của bà trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố mới là điều mà giới lập pháp quan tâm nhất trong phiên điều trần của bà sắp tới. Sau sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001, CIA đã tổ chức một cuộc truy lùng trên phạm vi toàn cầu nhằm tìm ra những kẻ đứng đằng sau. Vào năm 2002, các mật vụ của họ làm việc với chính quyền Pakistan đã bắt giữ được một nghi phạm thuộc al-Qaeda, Abu Zubaydah, và chuyển kẻ này tới nhà tù “Mắt mèo” ở Thái Lan. Zubaydah đã bị tra tấn dã man và bị “trấn nước” ít nhất 83 lần chỉ trong vòng một tháng, chết đi sống lại nhiều lần trong quá trình hỏi cung. Bà Haspel được trao quyền quản lý nhà tù này vào cuối tháng 10/2002, tức sau quá trình thẩm tra nghi phạm Zubaydah; một số cựu sỹ quan CIA cho hay. Đến giữa tháng 11 năm đó, một nghi phạm al-Qaeda khác, Abd al-Rahim al-Nashiri, được chuyển tới. Và nghi phạm này - bị cáo buộc đánh bom tàu USS Cole - cũng bị “trấn nước” 3 lần. Sau khi nhà tù mật bị đóng cửa vào đầu tháng 12/2002, bà Haspel trở lại Trung tâm Chống khủng bố đặt tại bên ngoài Washington với tư cách một quan chức quản lý chiến dịch ngầm. Trong số các công việc khắc nghiệt mà bà đã từng trải qua, khó nhất có lẽ vẫn là việc quản lý toàn bộ Cơ quan Tình báo trung ương.

ĐĐK

20 Mar 2018

ᔕTEᑭᕼEᑎ ᕼᗩᗯKIᑎG –

người từng khước từ một bản án tử hình



Stephen Hawking, một trong những nhân vật ngoại hạng vĩ đại nhất thế giới, vừa từ trần ở tuổi 76. Sinh ngày 8-1-1942 (300 năm sau cái chết của Galileo) tại Oxford (Anh), Hawking là bậc thầy về vật lý vũ trụ. Một trong những khám phá quan trọng ban đầu của Stephen Hawking là các lỗ đen không hoàn toàn đen mà chúng phát ra phóng xạ rồi cuối cùng “bốc hơi” và biến mất. Tuy bệnh tật trầm trọng, Hawking đã viết nhiều công trình nghiên cứu vĩ đại mà "Brief history of time" là tác phẩm nổi tiếng nhất. Sống trọn đời trên chiếc xe lăn, Hawking đã chứng minh rằng nghị lực phi thường có thể vượt qua tất cả. Hawking đã bộc bạch về một phần của đời mình và những vất vả mà ông lướt qua. Ông kể...

Người ta thường hỏi rằng tôi có tâm trạng như thế nào khi sống với căn bệnh teo cơ ALS (amyotrophic lateral sclerosis). Chẳng có gì nhiều để trả lời. Tôi cố sống như bình thường, không nghĩ về tình trạng bệnh tật và quên đi những rào cản mà căn bệnh đưa đến.

Tôi thật sự bị choáng khi biết rằng mình mắc phải chứng bệnh liên quan đến tế bào thần kinh vận động. Hồi nhỏ, thể lực tôi đã không được khỏe. Tôi không thể chơi tốt các môn thể thao, còn chữ viết thì lúc nào cũng làm thầy cô khó chịu. Tuy nhiên, những điều này đã thay đổi khi tôi vào Đại học Oxford. Tôi tham gia vào trò chèo thuyền và thậm chí còn thi đấu ở các giải liên trường. Năm thứ ba đại học, tôi bắt đầu nhận thấy đầu mình hay bị choáng. Tôi gần như không thể kiểm soát sự vận động của mình, bởi thế có khi tự nhiên tôi ngã. Năm sau, bố đưa tôi đi chẩn đoán, vài ngày sau lần sinh nhật thứ 21 của tôi. Hai tuần liên tiếp tại một bệnh viện, tôi trải qua nhiều cuộc xét nghiệm. Người ta lấy cơ từ tay, gắn điện cực vào người và chích một thứ chất lỏng vào cột sống tôi. Bác sĩ chẳng nói rõ cho tôi biết mình mắc bệnh gì. Tuy nhiên, tôi đoán rằng tình trạng bệnh tật mình rất xấu và họ không thể làm gì để chữa trị, trừ việc cho tôi vài viên vitamin.

Khi linh cảm mình mắc phải chứng bệnh vô phương cứu chữa, tôi có cảm giác như mình đang chết lần mòn. Làm thế nào chuyện như thế lại xảy ra và tại sao tôi không thể thoát khỏi nó? Nỗi buồn ám ảnh như bóng ma, cho tới một hôm, khi tôi thấy một cậu bé đang hấp hối vì bệnh bạch cầu, nằm đối diện giường tôi. Đó là cảnh tượng thật đáng thương. Rõ ràng, có nhiều người khác còn kém may mắn hơn mình. Dù sao, căn bệnh ALS không làm cho tôi đau đớn nhiều. Từ đó về sau, cứ mỗi lần tư tưởng bi quan xuất hiện thì lập tức tôi nghĩ đến cậu bé đó. Ít lâu sau, bác sĩ cho tôi xuất viện và nói rằng cứ tiếp tục nghiên cứu những đề tài về vũ trụ còn dang dở. Tôi tiến triển chậm trên con đường nghiên cứu vì thiếu nền tảng toán học...

Giấc mơ về cuộc đời tôi lúc còn trẻ rất mơ hồ. Trước khi được chẩn đoán mắc bệnh, tôi cảm thấy không hứng thú với cuộc sống. Dường như chẳng có gì đáng để làm. Rồi sau khi xuất viện, tôi thấy như mình sắp bị hành hình. Bỗng nhiên lúc đó tôi nhận ra rằng có rất nhiều điều đáng để thực hiện nếu bản án tử hình của tôi được hoãn lại. Như thế, dù sao, tôi cũng làm được gì đó cho cuộc sống trước khi mình chết. Cảm giác ham sống tràn ngập tim tôi và công trình nghiên cứu bắt đầu tiến triển nhanh hơn. Tôi càng cảm thấy ham sống khi đính hôn với cô gái mà tôi đã gặp vào thời điểm căn bệnh được phát hiện. Cuộc đính hôn với Jane Wilde làm thay đổi cuộc đời tôi. Tôi nộp đơn gia nhập hội đồng nghiên cứu thuộc Đại học Caius (Cambridge). Thật ngạc nhiên, đơn xin của tôi được chấp thuận.

Tôi chọn vật lý lý thuyết vì ngành này phù hợp với tình trạng bệnh tật của mình. Các đề tài của tôi ngày càng gây tiếng vang và đó cũng là lúc bệnh tình mỗi lúc mỗi xấu. Sau khi lập gia đình, chúng tôi rất vất vả trong việc tìm nhà ổn định chỗ ở vì lý do tài chính. Cuối cùng, với sự giúp đỡ của bố mẹ tôi, chúng tôi cũng mua được một căn hộ. Trước năm 1974, tôi vẫn còn tự ăn uống được và có thể lên xuống giường mà không cần ai giúp đỡ. Tuy nhiên, càng về sau, chứng teo cơ ngày càng phát triển mạnh. Cái nhìn về tương lai tôi lại nhuốm màu đen. Tuy nhiên, Jane đã an ủi tôi rất nhiều. Cô ấy là nguồn động viên cho tôi sinh lực sống. Tôi lại nhỏm dậy và lao hết mình vào các công trình nghiên cứu. Những đêm buồn bã đã trở thành những đêm tràn ngập các con số và bài toán. Công việc của Jane bận rộn nhiều hơn khi chúng tôi có con. Cuối cùng, gia đình tôi phải nhờ sự giúp đỡ của các sinh viên. Chúng tôi cung cấp cho họ chỗ trọ và họ giúp tôi làm việc nhà. Năm 1980, gia đình tôi thuê một số y tá tư, đến giúp việc một hay hai giờ vào buổi sáng và buổi chiều. 5 năm sau, tôi bị bệnh phổi và phải chịu ca phẫu thuật thông khí quản. Sau đó, tôi buộc phải chịu sự chăm sóc 24/24 vì không thể tự làm bất cứ chuyện gì, kể cả việc bước lên giường.

Trước ca phẫu thuật thông khí quản, tôi bắt đầu gặp trở ngại với việc phát âm. Chỉ có những người rất thân và gần gũi mới hiểu được tôi nói gì. Dù sao, tôi cũng còn giao tiếp được. Tôi soạn tài liệu khoa học bằng cách đọc cho một cô thư ký viết lại. Tôi diễn giảng thông qua một “thông dịch viên” và người đó đọc lại các câu nói của tôi với giọng rõ ràng hơn. Sau ca phẫu thuật, tôi không thể nói được nữa. Phương pháp giao tiếp và truyền đạt duy nhất trong thời gian này là tôi “đánh vần” từng từ, bằng cách nhướng chân mày khi thư ký chỉ đúng vào mẫu tự trên tấm bảng chữ cái. Thật khó có thể giao tiếp bằng lối này và càng khó khăn bội phần khi muốn viết tài liệu khoa học. Tôi không thể không nghĩ đến đám mây đen che phủ cuộc đời mình. Định mệnh cay độc dường như không chịu buông tha tôi.

Tuy nhiên, cứ mỗi lần định mệnh giáng một cú đấm đau điếng xuống đời tôi, thần may mắn lại giang tay giúp đỡ. Một chuyên gia về máy tính tên Walt Woltosz đã gửi cho tôi chương trình máy tính gọi là Equalizer, cho phép tôi chọn từ trên màn hình bằng cách nhấn nhẹ vào cái nút cầm ở tay. Chương trình này cũng được điều khiển bằng một cái nút khác, hoạt động khi cảm nhận sự chuyển động của chân mày hay cái gật đầu. Khi thiết dựng xong những gì cần nói, tôi có thể gửi câu hay cụm từ này sang một máy phân tích âm điệu. Thoạt đầu, tôi chỉ có thể điều khiển chương trình Equalizer trên một cái máy tính để bàn.

Sau này, David Mason - chuyên gia về kỹ thuật thông tin thuộc hãng Cambridge Adaptive Communication - đã gắn một máy tính xách tay và bộ phân tích âm điệu vào ngay cái xe lăn của tôi. Việc này đem lại tiện lợi và tôi có thể giao tiếp dễ dàng hơn trước nhiều. Tôi có thể “nói” đến 15 từ trong một phút. Tôi có thể “nói” hoặc “viết” bằng bộ thiết bị trên rồi lưu vào đĩa mềm để có thể in ra giấy. Tôi đã viết sách bằng cách này. Tôi rất hài lòng với thiết bị phân tích âm điệu của hãng Speech Plus, chỉ duy có điểm là nó làm cho tôi nói bằng giọng Mỹ chứ không phải giọng Anh! (Người vợ thứ hai Elaine của Hawking là vợ cũ của David Mason)...

Tôi đã mắc một chứng bệnh khiến tế bào thần kinh vận động không làm việc, trong suốt cuộc đời mình. Tuy nhiên, căn bệnh đã không thể ngăn tôi được chuyện có một gia đình hạnh phúc và không thể cản trở tôi trên bước đường nghiên cứu khoa học một cách thành công. Tôi cảm ơn vợ tôi, các con tôi và rất nhiều cá nhân cũng như tổ chức. Điều đó cho tôi thấy rằng người ta không nên từ bỏ hy vọng quá sớm. Định mệnh có thể bước sang lối đi khác, sáng sủa hơn, khi chúng ta không vội vã bi quan trước những rào cản cuộc đời.

(Manh Kim)


...
Để hình dung cuộc đời ngoạn mục của một người phi thường hơn cả phi thường như Hawking, xin xem lại kiệt tác điện ảnh “The Theory of Everything” với diễn xuất xuất sắc của tài tử Eddie Redmayne
1 Mar 2018

Những kẻ buôn xác người


Khi hiến xác cho khoa học, nhiều người Mỹ không ngờ rằng chính họ tự nộp mình cho một thị trường buôn bán nội tạng hầu như không có kiểm soát

Khắp các nhà tang lễ quanh TP Las Vegas, bang Texas - Mỹ nhan nhản tờ rơi của Công ty Dịch vụ Hiến tặng Nam Nevada (gọi tắt là Nam Nevada), nổi bật với hình ảnh 2 bàn tay nắm chặt. Trên ảnh là dòng chữ đầy hứa hẹn: "Mang lại những lựa chọn trong lúc bạn cần".

Ai cũng làm được

Nam Nevada không giấu giếm dịch vụ của họ. Đó là trao cho các gia đình đang đau buồn vì mất người thân một cách để trang trải chi phí tang lễ tốn kém: hỏa táng miễn phí, đổi lại việc hiến tặng các bộ phận thi thể người đã khuất cho "các nghiên cứu khoa học tiến bộ"

Tuy nhiên, cảnh tượng ở nhà kho vùng ngoại ô của công ty này không khỏi gây sốc. Vào mùa thu năm 2015, hàng xóm bắt đầu phàn nàn về mùi hôi bí ẩn và những chiếc hộp máu me trong thùng rác. Tháng 12-2015, hồ sơ y tế địa phương cho thấy có người đã liên lạc với giới chức trách để phản ánh hoạt động bất thường trong sân của nhà kho mờ ám nói trên.

Giới chức thanh tra y tế tới hiện trường, phát hiện một người bận trang phục y tế "tác nghiệp" bằng vòi nước làm vườn. Ông ta đang bày phần thân một thi thể người đông đá giữa ánh nắng mặt trời buổi trưa. Nước xối vào phần thi thể rồi chảy xuống rãnh chạy dọc con đường ngang qua một ngôi trường địa phương.

Giới chức thanh tra nắm được Nam Nevada là một công ty thu mua thi thể, mổ xẻ và bán cho các nhà nghiên cứu y khoa, các tổ chức huấn luyện và nhiều đối tượng khách hàng khác. Phần thi thể phơi trong sân sau nhà kho vốn đang được chuẩn bị cho một cuộc mua bán như vậy.

Mỗi năm, hàng ngàn người Mỹ hiến xác với niềm tin rằng họ đang đóng góp cho khoa học. Thực tế, nhiều người không ngờ các bộ phận cơ thể mình lại trở thành món hàng để mua bán trên thị trường. Theo Reuters, cái gọi là nhà môi giới thi thể còn được biết tới với cái tên hoa mỹ hơn và cũng được dân trong nghề ưa thích hơn là các ngân hàng thi thể không cấy ghép. Các "ngân hàng" này hoàn toàn không liên quan tới ngành công nghiệp cấy ghép mô và nội tạng vốn được chính phủ Mỹ quản lý chặt chẽ.

Mua bán tim, thận và gân để cấy ghép là hành vi bất hợp pháp. Nhưng không có luật liên bang nào quản lý việc mua bán thi thể hay các bộ phận thi thể dùng cho nghiên cứu hay giáo dục. Luật của từng bang cũng rất ít giám sát vấn đề này khiến hầu như bất cứ ai, không cần cứ phải có chuyên môn, đều có thể phân xác và bán thu lời.
"Vấn đề hiện tại là ai cũng làm được việc này. Chúng ta đang chứng kiến vấn đề tương tự đã xảy ra nhiều thế kỷ trước với những kẻ cướp mộ" - bà Angela McArthur nói với Reuters trong loạt phóng sự điều tra công bố hồi tháng 10-2017.
Chia sẻ của nữ Giám đốc Chương trình hiến xác tại ĐH Y Minnesota này đề cập tới nạn trộm xác hồi thế kỷ XIX, hành động lúc bấy giờ bị coi là xâm phạm giá trị của người đã khuất. "Tôi không biết liệu tôi có thể tìm kiếm được lời lẽ nào đủ mạnh để lột tả mức độ nghiêm trọng của vấn đề này. Việc họ đang làm ngoài kia là kiếm lời từ buôn bán con người" - bà McArthur - người từng dẫn đầu một ủy ban giải phẫu hiến xác bang Minnesota, nhấn mạnh.

Vùng xám

Mô hình kinh doanh của ngành công nghiệp này xoay quanh các con đường tiếp cận với nguồn cung thi thể miễn phí lớn. Xót xa thay, nó thường đến từ người nghèo. Những kẻ môi giới thường "thu gom" thi thể bằng giao ước sẽ chịu chi phí hỏa táng cho thân nhân của những người đã khuất.

Theo một số "cựu binh" trong nền công nghiệp chăm sóc chặng an nghỉ cuối cùng của con người, chiêu hỏa táng miễn phí của những kẻ môi giới thi thể đã nhắm trúng vào những gia đình thu nhập thấp. Nhiều gia đình đã dồn tất cả tiền bạc để chữa chạy cho người thân trong thời gian bệnh tật và không thể kham nổi chi phí tang lễ sau đó.

"Có tiền thì người ta còn có thể bàn tới các lựa chọn cách tiễn đưa như thế nào với người đã khuất… Nhưng nếu không có tiền, họ có thể phải gật đầu với lựa chọn cuối cùng: "hiến xác" - ông Dawn Vander Kolk, nhân viên xã hội thuộc trại cứu tế ở Illinois, nói.

Luật lệ lỏng lẻo đồng nghĩa với hậu quả cũng mơ hồ khi các thi thể bị lạm dụng hay ngược đãi. Trong vụ việc của Công ty Nam Nevada, giới chức trách nói rằng họ không thể làm gì hơn ngoài đưa ra một trát đòi hầu tòa về cáo buộc gây ô nhiễm nhỏ đối với nhân viên liên quan nói trên. Người điều hành của công ty, ông Joe Collazo nói "lấy làm tiếc về sự tình".

Ông này cũng cho rằng một sự giám sát sẽ rất có lợi cho ngành công nghiệp này, nó sẽ giúp người hiến tặng, người môi giới và các nhà nghiên cứu an tâm hơn. "Thú thực, tôi nghĩ là cần có các quy định. Có quá nhiều vùng xám" - ông Collazo nói.

Phân xác cho… dễ bán

Theo Giáo sư Ray Madoff từ ĐH Luật Boston, "có một thị trường lớn buôn bán các thi thể ở Mỹ nhưng chúng ta lại biết rất ít về những ai đang thu mua và họ đã làm gì".Thông qua phỏng vấn và các hồ sơ công bố, Reuters xác định được Nam Nevada và 33 nhà môi giới thi thể khác hoạt động trong suốt 5 năm qua. Trong đó, 25 doanh nghiệp bán thu lời, phần còn lại làm việc phi lợi nhuận. Chỉ trong 3 năm, một công ty kiếm được ít nhất 12,5 triệu USD từ các thương vụ mua bán các bộ phận thi thể. Chỉ có 4 bang của nước Mỹ giám sát chặt các hoạt động hiến xác và mua bán gồm New York, Virginia, Oklahoma và Florida. Ước tính từ năm 2011-2015, các nhà môi giới tư nhân nhận ít nhất 50.000 thi thể và phân phối hơn 182.000 bộ phận thi thể.Giấy phép lưu trữ từ Florida và Virginia cũng phần nào cho thấy các bộ phận thi thể hiến tặng được sử dụng ra sao: một chuyến hàng năm 2013 tới một hội nghị tập huấn chỉnh hình có 27 phần vai. Một chuyến hàng năm 2015 tới phiên họp về hội chứng ống cổ tay có 5 cánh tay. Nhìn chung, các nhà môi giới có thể bán một thi thể hiến tặng từ 3.000-5.000 USD, có khi lên tới 10.000 USD. Tuy nhiên, thi thể thường được phân chia làm 6 phần để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các tài liệu nội bộ từ 7 nhà môi giới cho thấy mức giá của từng phần thi thể: 3.575 USD cho phần thân kèm chân, 500 USD cho phần đầu, 350 USD cho bàn chân, 300 USD cho phần cột sống.

ĐỖ QUYÊN
Last Visitors


26 Apr 2013 - 10:55


14 Feb 2012 - 8:45


2 Feb 2012 - 23:20


29 Jan 2012 - 15:28


18 Jan 2012 - 12:21

Comments
Other users have left no comments for AnAn.

Friends
There are no friends to display.
Lo-Fi Version Time is now: 23rd April 2018 - 03:31 AM