Welcome Guest ( Log In | Register )

Profile
Personal Photo
Options
Options
Personal Statement
NamQuoc doesn't have a personal statement currently.
Personal Info
NamQuoc
Bảo vệ tổ quốc
46 years old
Gender Not Set
Location Unknown
Born April-11-1971
Interests
No Information
Other Information
Country: United States
Statistics
Joined: 22-September 09
Profile Views: 6,278*
Last Seen: Private
Local Time: Jan 23 2018, 03:34 PM
5,399 posts (2 per day)
Contact Information
AIM No Information
Yahoo No Information
ICQ No Information
MSN No Information
* Profile views updated each hour

NamQuoc

Năng Động

***


Topics
Posts
ibProBattle
Recent wiki edits
Arcade
Blog
Shared Photos
Comments
Friends
My Content
17 Jan 2018

Phạm lỗi lái xe ở California

sẽ bị phạt nặng trong năm 2018



California – Tiểu bang California sẽ tăng mức phạt các lỗi phạm luật khi lái xe, đặc biệt các lỗi như vứt tàn thuốc ra đường khi đang lái xe, lạm dụng thẻ đậu xe của người khuyết tật,… bắt đầu từ ngày 1 Tháng Giêng năm 2018.

"Theo thông tin từ DMV, trong những năm qua có rất nhiều trường hợp lạm dụng thẻ đậu xe của người khuyết tật nên năm nay DMV sẽ 'mạnh tay' với việc này. Đậu xe vào nơi dành cho người khuyết tật, mức phạt từ $325-$375, nhưng sử dụng thẻ của người khuyết tật để đậu xe, nghĩa là trên xe không có người khuyết tật có tên trên thẻ, mức phạt sẽ là $1,000, ông Michael Võ, Giám đốc Little Saigon Traffic School ở thành phố Westminster, cho biết.

Ông Michael Võ giải thích thêm: "Với những tội như quăng rác hoặc vứt tàn thuốc ra ngoài khi đang lái xe thì bị xếp vào tội 'tiểu hình'. Nghĩa là khi phạm tội này, người phạm tội không chỉ đóng tiền phạt mà còn buộc phải tham gia lao động công ích như dọn rác hoặc những việc liên quan để người phạm tội ý thức được hành động của mình là sai trái. Mức phạt tiền dành cho người vứt tàn thuốc ra ngoài xe là $1,000 và còn phải hầu tòa. Mức phạt này nặng hơn vứt rác, bởi tàn thuốc có thể làm cháy cỏ, cháy rừng".

Theo luật mới có hiệu lực, các lỗi bị phạt nặng nhất là: say rượu lái xe (DUI), phạt $1,000 nếu vi phạm lần đầu, lần thứ 2 trở lên phạt $10,000 (nếu có tai nạn bị tù 18 tháng); lái xe trên 100 miles/giờ, phạt $1,000 và phải ra hầu tòa; tông rồi bỏ chạy (hit-and-run), phạt từ $1,000-$10,000; chạy ngược chiều gây tai nạn, phạt từ $1,000-$10,000.

Bình luận về chuyện tăng mức phạt cho việc vứt tàn thuốc ra đường và lạm dụng chỗ đậu xe dành cho người khuyết tật, anh Thiện Thành, cư dân ở thành phố Garden Grove nói: "Tôi hoàn toàn đồng ý chuyện tăng mức phạt. Mà tôi nói thật, đối với mấy người vô ý thức đó, phải tăng mức phạt lên gấp 100 lần mới đáng. Họ thừa biết chuyện đó là sai nhưng vẫn làm thì không thể nào có chuyện thông cảm. Sống ở một đất nước văn minh, tôn trọng luật pháp thì chúng ta phải hành xử cho văn minh chứ!".

Còn ông David Duong, ở thành phố Irvine thì cho rằng cảnh sát tăng mức một phần vì chính phủ thiếu tiền. "Theo tôi, chuyện phạt răn đe để người vi phạm không tái phạm chỉ là một phần. Phần còn lại là vì họ thiếu tiền. Họ không thể thu thuế người dân cao hơn nên họ phải tăng các mức phạt. Tôi thấy dưới thời ông Trump, không có gì là ổn cả!".

* Người Việt thường dùng điện thoại khi lái xe?

Cũng theo ông Michael Võ, lỗi mà người Việt ở Little Sài Gòn mắc phải nhiều nhất là sử dụng điện thoại khi lái xe. Nhiều người biết luật nhưng do có lẽ do chủ quan, nghĩ rằng cảnh sát không nhìn thấy mình. Nhiều người nghĩ rằng chỉ bị phạt khi cầm điện thoại, áp vào tai để nói chuyện, còn nếu cầm điện thoại hoặc để chế độ speaker để nói chuyện sẽ không sao. Thực ra kể cả khi tay chạm vào chiếc thoại, dù không có ý định gọi ai hoặc đeo cả 2 tai nghe phone cũng bị phạt. Cầm điện thoại trên tay, mức phạt từ $168-$238. Còn đeo cả 2 tai nghe, mức phạt, cho người lần đầu vi phạm, từ $160-$238.

Cũng đồng ý với việc tăng mức phạt cho một số lỗi vi phạm nhưng riêng với chuyện bị phạt nếu cảnh sát bắt gặp cầm điện thoại trên tay, dù không có ý định gọi cho ai, chị Trầm Hương ở thành phố Westminster không đồng tình.
"Nếu tôi nói chuyện trên điện thoại, cảnh sát bắt gặp thì 'OK', tôi chịu, nhưng chỉ cầm điện thoại thôi mà phạt thì tôi không phục. Tôi đôi khi tranh thủ lúc đèn đỏ để mở nhạc, hoặc xem tin nhắn, hoặc mở Google Maps tìm đường đi thì đâu gây nguy hiểm cho ai mà bị phạt?", chị Trầm Hương nói.

Đồng tình với chị Trầm Hương, chị Minh Hà ở thành phố Westminster nói: "Nếu tôi bị phạt vì cầm điện thoại trên tay dù không gọi ai, tôi sẽ ra tòa cãi. Nếu phạt như vậy thì những người ăn, uống hoặc trang điểm khi đang lái xe có bị phạt không?"

* Tiền bảo hiểm sẽ tăng

Anh Phong Trần, đại lý bảo hiểm iPacific Real Estate, đưa ra ví dụ cụ thể để có thể hình dung được mức bảo hiểm tăng như thế nào sau khi bị phạt lỗi "say rượu" lái xe.

"Lấy ví dụ một người đàn ông 30 tuổi, độc thân, sống ở thành phố Westminster, đi xe Toyota Camry 2016, trả bảo hiểm hai chiều là $1,400/ năm. Sau khi bị phạt vì lỗi say rượu lái xe, mức phạt này sẽ là $3,186/năm. Bảo hiểm của người này sẽ giữ nguyên như vậy trong 10 năm".

Còn ông Michael Võ kể cho phóng viên Nhật báo Người Việt nghe câu chuyện của một người phụ nữ có 4 con, sau khi chồng mất vì lái xe gây tai nạn khi đang say rượu, phải vào sống ở nơi dành cho người homeless vì chị không có việc làm. Sau một thời gian, người phụ nữ này cùng 4 người con chuyển từ miền Đông nước Mỹ sang California. Sang đây, nhờ cộng đồng người Việt giúp đỡ, cuộc sống của người phụ nữ này và 4 người con hiện đã khá hơn.

"Tiệc tùng, gặp gỡ bạn bè, uống bia rượu cho vui, không có gì là xấu nhưng chúng ta phải nên tính toán sao cho cuộc vui trọn vẹn và có trách nhiệm với gia đình. Chúng ta có thể đi Uber khi biết mình sẽ uống bia, rượu. Bởi nếu bị phạt về tội uống rượu lái xe, ngoài chuyện bị phạt tiền, còn bị giữ bằng lái tạm thời 30 ngày. Trong 30 ngày sẽ không được lái xe đi làm, không đưa đón con đi học được, nếu có con. Những ai chưa nhập quốc tịch cũng sẽ bị ảnh hưởng", ông Michael Võ khuyên.

Ngoài ra các mức phạt khác nên lưu ý:


- Không mang theo bằng lái, phạt từ $168-$214;
- sau 10 ngày đổi địa chỉ mà không thông báo cho DMV, phạt từ $168-$214,
- làm tối (tint) 2 kính cửa trước xe, phạt từ $178-$238;
- không thắt dây an toàn, phạt từ $160-238;
- không mở đèn khi trời sắp tối hoặc không tắt đèn sau khi trời sáng 30 phút, phạt từ $382-$425;
- lái xe không có bảo hiểm gây tai nạn, phạt từ $796-$850 (sẽ bị treo bằng lái trong bốn năm);
- vượt đèn đỏ, phạt từ $490-$544;
- vượt qua hai lằn vàng, phạt từ $388-$425;
- qua mặt xe bus chở học sinh khi đang xe đang ngừng cho học sinh lên hoặc xuống xe, phạt từ $675-750.
Tất cả các mức phạt này chưa bao gồm tiền đi học lớp "xóa ticket".

Theo nguoi-viet.com
28 Dec 2017

Giáng Sinh buồn đến kiếp nào?


1. Quận Hoài Nhơn, 1969, một năm sau Tết Mậu Thân. Tôi nhận lệnh dẫn một nửa Đại đội 202 CTCT, từ Ba Gi (Qui Nhơn), đại bản doanh của Sư Đoàn 22BB, ra tăng phái cho Trung đoàn 40 –lúc ấy đóng tại Đệ Đức, trên đường Bồng Sơn và Tam Quan. Nửa đại đội được chia làm hai toán. Mỗi toán gồm trên dưới mười người do một chuẩn úy chỉ huy, hằng ngày, theo lịch trình, đi xuống các xã ấp thuộc quận, hoặc bằng xe dodge cơ hữu, hoặc thỉnh thoảng, vì lý do an ninh, bằng trực thăng của Sư đoàn I Không Kỵ (1st Cav) Hoa Kỳ, để làm công tác, một cách độc lập, nhưng đôi khi phối hợp với một toán Dân sự vụ Mỹ. Xuống những xã, ấp xa xôi, hai toán chúng tôi phải tự bảo vệ lấy, và vì thế được trang bị súng ống tương đối đầy đủ, và các toán viên thường là lính tác chiến lâu năm hoặc bị thương đổi về, có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ít khi phải nhờ đến sự trợ giúp của những đơn vị địa phương quân hay nghĩa quân.

Tôi nhớ buổi sáng hôm đó là ngày 25 tháng 12, đúng lễ Giáng Sinh. Chuẩn úy Hoàng, một trưởng toán, bị bệnh. Tôi phải đi thay, dẫn toán của anh đến ấp Vĩnh Phụng, xã Hoài Xuân –nằm dọc, cũng như những xã khác của quận Hoài Nhơn, trên hai bờ sông Lại. Không khí cuối năm vắng ngắt, đơn điệu, đến độ nhàm chán. Tại những vùng quê hẻo lánh Việt Nam thời ấy không có nhà thờ, không tổ chức mừng Giáng Sinh rầm rộ như dân thành thị, Sài Gòn, hay Nha Trang của tôi, chẳng hạn, dù có đạo hay không. Không có tiếng chuông giáo đường ngân nga, rộn rã. Không có, như bây giờ, cây sapin giăng đèn lấp lánh, và ông già Nô-En đứng trước cửa siêu thị, rung chuông leng keng, chúc lễ và phát quà cho trẻ em. Chỉ có một ngôi nhà thờ duy nhất tại thị trấn Bồng Sơn cho toàn quận Hoài Nhơn, và dân Công giáo, từ các xã ấp, phải lên đó để dự lễ mỗi sáng Chúa Nhật.

Chúng tôi đến Vĩnh Phụng làm công tác Dân sự vụ và Tâm lý chiến. Như thường lệ. Nghĩa là bắc loa kêu gọi dân trong ấp đến tập họp trên một khoảng đất trống, rộng, và chung quanh có bóng cây xanh mát, gần trụ sở ấp, rất an toàn. Tại đây, họ được y tá khám bệnh thông thường, phát thuốc tại chỗ, hoặc được xe của toán chở về bệnh xá Bồng Sơn trong trường hợp bệnh nặng, cấp cứu… Hay được nghe một toán viên nói chuyện, nhắc nhở: đề cao chính nghĩa quốc gia, kêu gọi đồng bào đừng bỏ xóm làng, “lên núi thoát ly” theo Việt Cộng, đừng “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” v..v… Các em nhỏ được phát kẹo bánh, tập vở, bút mực, và sau đó được tập bài quốc ca VNCH hay những bài hát quen thuộc, ví dụ, tôi nhớ, Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…. Việt Nam, nước tôi… hay Đây Bạch Đằng giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng…

Làm xong bấy nhiêu công việc thì đã hết buổi sáng. Tôi cho cả toán nghỉ ngơi, ăn trưa và tự do đi lại trong ấp, nhưng không quá xa, chờ đến giờ trở về Đệ Đức. Còn tôi và một vài anh lính trải poncho nằm trên cỏ, bên gốc cây, ngước nhìn ánh nắng lấp lánh chiếu qua vòm lá và nghe tiếng chim hót líu lo trên cành. Một số toán viên, còn trẻ, xin đi vào nhà dân, để thăm hỏi các cụ già và, tôi đoán, để nhân dịp, tán gẫu với các cô mơn mởn đào tơ, má hồng môi thắm tự nhiên. Thực vậy, theo cặp mắt cá nhân, chủ quan, của tôi, gái Bồng Sơn và Tam Quan nổi tiếng đẹp nhất vùng Bình Định, nếu không muốn nói cả Vùng II Chiến Thuật.

2. Tôi đang lim dim mắt, miên man suy nghĩ chuyện đời, và một anh lính đang nghêu ngao một bài vọng cổ, thì bỗng một tiếng mìn nổ vang, từ bờ ruộng, không xa chỗ tôi nằm bao nhiêu. Giật mình chồm dậy, chụp vội cây súng, và thấy một làn khói đen tỏa bay trong không gian. Nghe tiếng kêu la của vài em nhỏ hớt hải chạy về phía tôi: “Ông Thiếu úy ơi, có con nhỏ Út bị thương nằm kia kìa…” Cũng đoán biết được chuyện gì đã xảy ra, cả toán tất tả đi theo các em, về phía cánh đồng, súng cầm tay, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Đến nơi, thấy nằm gục nửa dưới ruộng, nửa trên bờ, một bé gái, tức “con nhỏ Út”, độ tám, chín tuổi, cao và gầy đét như khúc củi, mình mẩy và mặt mày đầy máu, nhuộm đỏ cả chiếc áo cụt trắng. Mấy đứa trẻ mách: Út ra ruộng sớm, mót lúa, đã đạp phải mìn gài sẵn. Chưa biết của bên nào. Tôi thận trọng, đưa mắt quan sát hiện trường, xem có quả mìn hay lựu đạn nào chưa nổ, hay một tên du kích nào đang rình chờ chúng tôi.

Y tá Thám cúi xuống, cầm lấy tay Út bắt mạch, rồi đặt ống lên ngực nghe nhịp thở, tiêm một mũi thuốc không tên, mà anh nói để “cầm máu”, và cho uống hai viênaspirine để giảm đau, trong khi tôi choàng tay, cẩn thận, đỡ bé ngồi dậy. Người bé mềm nhũn, miệng rên nho nhỏ, liên tục. Vì trái mìn bẫy đặt ngược hướng, sợi dây kíp khá dài, và nổ khi Út đứng khá xa, nên thân thể còn nguyên vẹn, không nát bấy, chỉ bị ghim đầy những miểng sắt li ti. Gương mặt xinh xắn của bé, có vẻ già dặn trước tuổi, lúc ấy xanh như tàu lá, và cặp mắt lờ đờ ngước nhìn tôi. Thám quay sang, kín đáo khẽ lắc đầu, và tôi hiểu. Từ thân thể Út máu tiếp tục chảy từng giọt, chắc bé đau đớn lắm. Bé kêu khát. Tôi mở bi đông, đổ nước vào nắp, cho bé uống vài hớp nhỏ. Vừa suy tính rất nhanh. Tại các ấp, như Vĩnh Phụng, làm gì có trạm cấp cứu, nhân viên y tế, hay thuốc men. Chở đi Bồng Sơn không kịp nữa, vì bé đã yếu lắm rồi, lả người trong vòng tay tôi. Gọi máy PRC 25 về trung đoàn, buổi trưa, không gặp ai. Gọi thẳng Sư đoàn 1st Cav Mỹ xin trực thăng tải thương thì không biết tần số, và tốn thời gian lắm, lại sợ họ không tin mình. Không còn biết làm gì hơn, tôi dùng khăn ướt lau sơ máu trên mặt, trên tay của bé và cầu nguyện cho bé gắng gượng thêm độ nửa giờ nữa thôi –thời gian vừa đủ để xe chúng tôi chở kịp về tới Bồng Sơn.

Bỗng Út mở to mắt, nhìn thẳng vào tôi, ngơ ngác, như vừa tỉnh cơn mê từ một cõi nào rất xa xôi. Bé thều thào hỏi: – Con qua nổi không chú?

Tôi liếc nhanh về phía y tá Thám, rồi gật đầu: – Qua nổi chứ con! Nếu con hứa là con gượng thêm nửa giờ nữa…

Bé mở hé đôi môi, cố gắng mỉm cười khó khăn, lắc nhẹ đầu, và đáp khẽ:

– Không kịp đâu chú, con biết con không sống nổi, con mệt quá rồi. Khi nãy trong giấc mơ, con có gặp ba cô mặc áo trắng tinh, có hai cánh trên lưng, nói đang chờ để rước con đi…

Rồi Út tiếp, giọng rời rạc, càng lúc càng nhỏ dần, nhỏ dần: – Chú ơi, con muốn được ôm, trước khi chết… con là đứa mồ côi, không cha không mẹ, không người thân thích… con ở đợ, mót lúa cho nhà người ta… không có ai thương con hết… con muốn được ôm, một lần này thôi…

Tôi bật khóc, ôm bé vào lòng, hôn lên trán, lên tóc bê bết máu, mà nước mắt tuôn rơi như mưa, chảy xuống ướt chiếc áo trận, hòa lẫn với máu của bé chưa khô. Vừa lúc ấy, trên cặp môi tím ngắt bé như cố nở một nụ cười mãn nguyện. Rồi ngoẹo đầu vào ngực tôi, bé làm động tác muốn giơ hai cánh tay lên, nhưng không đủ sức, lại bỏ xuống, và nửa giây sau, bé từ từ nhăm mắt, và trút hơi thở cuối cùng trong tay tôi. Tất cả diễn ra không đầy bốn phút, từ lúc gặp bé nằm ở bờ ruộng.

Tôi nhẹ nhàng buông xác bé xuống, đặt nằm ngay ngắn trong tấm poncho còn mới của tôi. Bé đã được liệm bằng poncho, giống như một người lính chiến thật sự. Giống như những đồng đội của tôi chết trận, mà tôi được chứng kiến, tại Ban Mê Thuột, Kontum, Phan Thiết… năm nào. Chung quanh, mọi người vẫn đứng yên, lặng thinh, mắt đỏ hoe, kể cả tốp lính địa phương quân vừa kịp đến để chứng kiến cảnh tượng thương tâm này. Tôi biết, cũng như tôi, những người lính, rất chai lì vì phải thường trực thách đố với cái chết cận kề, và định mệnh tàn nhẫn, không khóc dễ dàng. Nhưng trước thân xác gầy guộc, đẫm máu, của Út, một bé gái nạn nhân vô tội của chiến tranh khốc liệt, phi lý, cây cỏ cũng khóc theo, huống chi người. Khi tôi hỏi, mìn do ai gài, một anh địa phương quân nói lớn, có vẻ tức giận: – Mìn của mấy thằng du kích Việt Cộng gài đó, ông thầy. Còn ai trồng khoai đất này. Sáng nay, tụi em chưa kịp đi gỡ thì con nhỏ Út ra ruộng sớm, đạp trúng. Tội nghiệp nó quá.

Tôi giao tấm poncho gói xác Út cho nhóm địa phương quân và moi tiền từ bốn túi quần, cộng với tiền gom góp của anh em tự nguyện trong toán, không đếm bao nhiêu, nhưng đoán khá bộn, đưa hết cho trung sĩ trưởng nhóm, và nói: – Tôi nghe nói bé Út mồ côi, nghèo khổ, nên nhờ các anh mua cái hòm cho bé và làm phước, chôn cất tử tế giùm.. Còn thiếu bao nhiêu các anh bù giúp cho..

3. Trên đường về lại Bồng Sơn, cả toán không ai nói với ai một lời nào. Giống như một lần trước đó không lâu, khi chúng tôi chở đến bệnh xá quận lỵ một bé trai mười tuổi từ một ấp, xã khác, gần hơn, đã đạp phải lựu đạn cũng của Việt Cộng –bị thương khá nặng, nhưng sống sót, vì được cứu kịp thời, chỉ phải cưa một chân. Tôi ngồi im, như tượng đá, và mắt vẫn còn cay sè. Đến Bồng Sơn, đi ngang nhà trọ của Thơ Thơ, tôi bảo tài xế dừng lại, chờ tôi mười phút. Nàng mở cửa, thấy quần áo tôi dính đầy máu, hoảng hốt kêu lên:

– Trời ơi, anh bị thương phải không?

Tôi lắc đầu, gượng mỉm cười. Nàng ôm tôi vào lòng, siết chặt, như sợ tôi biến thành mây bay đi, và tôi kể hết câu chuyện bé Út. Nàng vừa nghe vừa rơm rớm nước mắt. Rồi nghẹn ngào nói nhỏ:

– Tội nghiệp bé quá. Tối nay em sẽ thắp nhang khấn vái cho hồn bé được siêu thoát. Sau khi nghe chuyện này, em yêu anh quá, em yêu anh hơn, em yêu anh mãi mãi. Mãi mãi, anh biết không? Cái chết không bao giờ có thể chia lìa hai đứa chúng ta.

Hôm sau, Hoàng hết bệnh, tôi trả lại toán để anh dẫn xuống Vĩnh Phụng tiếp tục công tác thường nhật. Còn tôi, từ đó cho đến ngày rời bỏ Bồng Sơn trở về Bà Gi, tức hơn nửa năm sau, không bao giờ đặt chân lên ấp đó nữa, dù chỉ ghé qua một lần. Để tránh nhớ một trong những kỷ niệm thảm thương nhất, nếu không muốn nói một kỷ niệm thảm thương nhất, trong suốt đời lính. Sau ba tháng, tôi được lệnh của trung đoàn ngưng công tác tại quận Hoài Nhơn, và điều động cả hai toán ra Tam Quan –một quận lỵ nguy hiểm nhất của Bắc Bình Định.

4. Rồi qua bao nhiêu thăng trầm, trong suốt bốn mươi bảy năm kể từ Noël 1969 đó, tôi cố quên cái chết của bé Út, cũng như của Thơ Thơ –đã gục ngã trên đường di tản tháng 4 năm 1975, khi đoàn người chạy loạn bị Việt Cộng pháo kích. Cố quên và xem tất cả như một dĩ vãng tàn khốc và kỷ niệm thảm thương của chiến tranh, của một thời để yêu và một thời để chết. Cố quên, nhưng không thể được.

Đặc biệt bé Út. Quả thế, cứ mỗi cuối năm khi mùa Giáng Sinh tới, và cứ mỗi lần tôi giơ tay ôm hug ai, thì hình bóng tội nghiệp của bé bỗng dưng lại hiện về trong tâm trí, với thân xác đầy máu và thương tích, với vẻ mặt đau đớn tột cùng, với những lời trối trăng, đứt quãng, “con muốn được ôm… không ai thương con hết…” Hỡi ơi, buồn này biết đến kiếp nào mới nguôi? Bé hiện về như một ám ảnh dịu dàng, vời vợi. Như một linh hồn nhỏ mồ côi, trắng tinh như tờ giấy mới, lạc loài giữa trần ai quỷ ma ác độc. Như một quý nhân phù trợ mà hương linh lẻ loi còn mãi lẩn quất bên người, hơn cả chiêm bao, qua suốt nửa thế kỷ. Để cùng với Thơ Thơ –người rất yêu dấu bên dòng sông tương tư ngày nào– nắm tay tôi, dắt đi qua những phong ba của cuộc đời.

Portland, ngày Giáng Sinh, 25/12/2016

Kim Thanh
16 Dec 2017

Qui Nhơn , thành phố và người lính


Trước sân Trường Sư Phạm Qui Nhơn (Năm học 1967- 1968). Ảnh từ Đặc San Sư Phạm Qui Nhơn, 2009

Vào một buổi trưa thượng tuần tháng 5, khi qua con đường Phan Đình Phùng, tôi bắt gặp một hình ảnh vô cùng cảm động và vô cùng thương xót. Nó xảy ra trên đường phố này, thành phố này. Nó làm tôi thấy rõ thành phố tôi đang trở về , tôi đang lẻ loi, tôi đang buồn, tôi đang uống rượu. Tôi đã nhận rõ người thiếu phụ đau khổ ấy. Nàng chạy qua đường, nàng lao vào bánh của chiếc xe quan. Nàng vùng vẫy khỏi những cánh tay của các ni cô áo vàng. Nàng đang níu kéo chiếc xe trở lại. Rồi nàng ngã quị trên vai một ni cô. Tóc nàng tung tóe. Đôi mắt nàng trợn trừng, nhìn về phía xe quan. Anh đi rồi. Sao anh bỏ mặc em. Đám ni cô lại dìu nàng đến trước bàn thờ. Chồng em đó. Chồng em đó. Lạy đi. Khấn đi.

Chồng em hy sinh vì tổ quốc đó. Bỏ vợ và một đứa con mới bảy tháng đó. Lạy đi. Lạy cho hương hồn siêu thoát cho tiêu diêu miền Cực lạc, cho sớm về Cõi Niết Bàn. Tôi thấy nàng không lạy. Không khóc. Nàng trợn trừng ngó Phật, ngó bàn thờ. Chồng em đó. Chuẩn úy mới trình diện đơn vị được mười ngày đó, bị bắt sống đó, bị đâm, bị mổ xẻo lóc da lóc thịt đó… Hôm nay có cả một phe ăn mừng và một phe vinh danh anh hùng hy sinh vì tổ quốc. Hôm nay có một người đàn bà đang níu kéo chiếc xe quan cho đừng chạy. Nhưng cuối cùng xe đã bắt đầu rồ máy.

Và tôi vừa đi, vừa chạy.

Tôi nghĩ đến một người đàn bà thành phố đau khổ. Qui Nhơn đã có biết bao nhiêu người đàn bà như thế. Mới yêu nhau, mới kết tóc xe tơ nhau, mới trở về bên nhau, mới lạy cha mẹ nhau. Mới có một đứa con hay có đám con đùm đề. Qui Nhơn vẫn ăn chơi, vẫn chạy áp phe, vẫn thối nát, vẫn những chiếc xe sao trắng tuôn khói, bóp còi inh ỏi, chở đám con gái đi làm sở Mỹ. Qui Nhơn vẫn có những ổ điếm từ hạng sang đến hạng hèn ở khách sạn, phòng ngủ, hay ở bến xe ngõ hẻm. Thành phố vẫn bình thản với những buổi sáng trời trong và buổi chiều trời xanh lơ như ngọc bích. Tháng năm thành phố nóng bức, bãi biển đông người vào buổi tối. Các quán giải khát mọc lên như nấm. Nhạc thời trang, nhạc Hùng Cường, Trịnh Công Sơn hay tiền chiến vẫn tiếp tục lướt dài trên con đường phố khuya khoắt. Thành phố vẫn yên tĩnh. Tòa nhà văn hóa nguy nga, vẫn ngày buổi họp xây dựng bình định nông thôn, nhân dân tự vệ. Các con đường dẫn vào thành phố bắt đầu có ổ gà, bùn đọng hay bụi bốc mịt mù. Và dọc các con đường phố chính là gái điếm ngồi nhởn nhơ trước cửa mời gọi. Qui Nhơn… Qui Nhơn…

Tôi nghĩ đến một người con gái trong thành phố này. Một đêm trăng nàng khóc bên tôi. Đã xa rồi những bài ca nàng hát, những nỗi buồn nàng kể. Đêm trăng ấy, nàng đến gặp tôi với tờ bảo đảm đi làm sở Mỹ. Nàng năn nỉ tôi ký. Nàng khóc khi kể về sự túng quẩn phải nuôi một đứa con không cha. Tôi hỏi tại sao em không tiếp tục làm nghề ca hát cho đơn vị chiến tranh chính trị nữa. Có những người lính cam khổ, đóng ở tiền đồn xa cần đến tiếng hát của em. Em đem tiếng hát để làm ấm lòng hay an ủi những người phải hy sinh tuổi trẻ của họ. Em đem tiếng hát xoa dịu phần nào nỗi đau đớn của thương binh. Em là con chim mang mùa xuân vào cõi bất hạnh. Tôi muốn ôm nàng mà chia sẻ nỗi niềm của tôi. Tôi nhìn vào đôi mắt của nàng. Sao em lại bỏ đi làm sở Mỹ. Khi ấy nàng cúi nhìn xuống, nửa gương mặt của nàng lóng lánh ánh trăng. Tôi thấy những giọt nuớc mắt vàng long lanh đọng trên má nàng. Nàng lắc đầu: Lương em ít quá. Lương chỉ có bảy ngàn, làm sao em đủ tiền để nuôi con…

Tôi không nói. Nếu tôi nói thì sẽ nói gì bây giờ…

Những người con gái của thành phố này có còn làm đẹp cho thành phố nữa không. Chắc chắn là không. Và người lính như tôi có còn trở về để ấm lòng vì ít ra mình còn biết việc chiến đấu của mình là không vô ích?

Nhưng tôi vẫn phải về thành phố ấy. Thành phố ô nhục như những thành phố khác. Tôi phải về nhờ những chuyến xe đầy thực phẩm hàng hóa và mồ hôi người. Ngày có lương thì ăn chơi thỏa thích. Ngày không còn một đồng bạc cắc thì lê la nhìn con gái đàn bà. Tôi yêu những nàng con gái Sư phạm, mỗi ngày thứ bảy chủ nhật bung ra làm đẹp những đường phố Qui Nhơn. Họ tạo nên một mùa con gái mỗi năm. Họ đến từ bốn phương trời mang về những sắc hoa hương phấn. Họ ở lại để điểm trang thành phố một mùa. Rồi một mùa mới laị trở về. Phố lại thêm những tà áo mới vờn bay thay vào những tà áo đã mất. Họ đến cũng như họ đi. Như những đám mây trên Ghềnh Ráng, họp rồi tan. Không cần ai biết. Cũng chẳng cần ai thắc mắc.

Chỉ có tôi là tội nghiệp. Bởi tôi lỡ có một cánh bướm, một cánh chim, một bông hoa, một người nữ trong rừng bướm, rừng chim, rừng hoa, rừng người nữ ấy. Nàng bỏ tôi, quay mặt với tôi. Nàng không động lòng từ tâm trắc ẩn khi nghe tôi kể về những cực khổ những gian nguy mà người lính đã phải gánh chịu. Để cho nàng được bình an học hành, để cho một ngày nàng thành tài và bỏ thành phố mà đi. Như một con tàu rời nhà ga, để lại sân ga trống vắng lạc loài.

Tôi vẫn phải về, dù nhà giam trong quân trấn vẫn mở cửa chờ đợi. Tóc tôi dài, râu không cạo, đôi giày của tôi vẫn đầy bùn đất sau một đêm dắt lính đi làm ăn. Đây là ngôi nhà nhỏ ở khu Sáu, một lũ bạn nghèo đói, lếch thếch lang thang xa hương xa xứ. Còn có những đêm cả bọn ôm nhau nhổ râu, nặn mụn, chưởi thề. Có tiếng ngâm thơ của Phạm Cao Hoàng trong bài thơ Quang Dũng, còn có tiếng hát của Phạm văn Nhàn, Thế Vũ vang rền cả đêm khuya (1), còn có Lê văn Trung nhìn lên bầu trời ngoài khung cửa mà mà nghĩ:

Tình không, không cửa, không nhà
Lòng như mây trắng bay qua biển chiều

Còn có tôi trở về với máu me dầm dề áo trận khi cùng Trịnh Kim Đồng (đã chết ngày 29-3-1970) đập phá quán cho vơi buồn. Bởi vì chúng tôi không thể làm gì hơn thế nữa. Ngoài trừ là chờ đợi cái chết như Trịnh Kim Đồng.

Trần Hoài Thư

(Khởi Hành số 61 tháng 7-1970)

(1) Tôi không thể ngờ là PVN và TV lại hát “vang rền cả đêm khuya”!!!. Có PCH ngâm thơ QD nữa. Nhưng rõ ràng có đoạn văn cũ trên KH làm chứng.
Last Visitors


6 Nov 2013 - 19:51


10 Feb 2012 - 11:45


26 Dec 2011 - 9:14


16 Dec 2011 - 15:04


5 Dec 2011 - 8:33

Comments
Other users have left no comments for NamQuoc.

Friends
There are no friends to display.
Lo-Fi Version Time is now: 23rd January 2018 - 03:34 PM