Welcome Guest ( Log In | Register )

Profile
Personal Photo
Options
Options
Personal Statement
Tulip doesn't have a personal statement currently.
Personal Info
Tulip
Hoa cô đơn
Age Unknown
Gender Not Set
Location Unknown
Birthday Unknown
Interests
No Information
Other Information
Country: Brazil
Statistics
Joined: 28-October 08
Profile Views: 6,064*
Last Seen: Private
Local Time: Jan 18 2018, 07:10 PM
5,240 posts (2 per day)
Contact Information
AIM No Information
Yahoo No Information
ICQ No Information
MSN No Information
Contact Private
* Profile views updated each hour

Tulip

Năng Động

***


Topics
Posts
ibProBattle
Recent wiki edits
Arcade
Blog
Shared Photos
Comments
Friends
My Content
4 Jan 2018


Dậy sớm chưa chắc đã thành công?



Tất cả chúng ta đều từng nghe nói thế này: để thành công, hãy thức dậy sớm. Rốt cuộc thì CEO (giám đốc điều hành) của Apple, Tim Cook thức dậy 3:45 sáng, CEO của hãng xe hơi Fiat, Sergio Marchionne dậy lúc 3:30 sáng, và tỷ phú Richard Branson dậy lúc 5:45 sáng.

Nhưng không lẽ chỉ vì một vài người thành công dậy sớm, mà điều đó có nghĩa dậy sớm là đặc tính chung của họ? Và nếu như mỗi khi nghĩ tới việc phải dậy tập thể dục, lên kế hoạch ngày làm việc, ăn sáng, phác thảo và hoàn thành một việc trước 8 giờ sáng chỉ khiến bạn muốn lăn qua lăn lại trên giường và bấm nút tắt báo thức lại đến thứ Bảy tới, thì liệu cuộc đời của bạn có kém thành công hơn không?

Với khoảng phân nửa trong chúng ta, điều này không phải vấn đề gì cho lắm. Một ước tính cho rằng khoảng 50% dân số không phải là người sống về sáng hay về đêm, mà là ở đâu đó giữa ngày.

Khoảng cứ bốn người lại có một người có xu hướng mở mắt thức dậy sớm hơn, và cứ bốn người lại có một người sống kiểu cú đêm.

Với họ, hệ quả xa hơn là những biểu hiện như ngủ gục trước màn hình TV lúc 10 giờ tối hay thường xuyên đi làm trễ.

Có nghiên cứu cho thấy người dậy sớm hay thức khuya cho thấy sự phân chia thông thường giữa phần não trái và não phải: giữa phần phân tích và hợp tác với phần tưởng tượng và cá nhân.

Nhiều nghiên cứu cho thấy những người dậy sớm thường kiên trì hơn, tự định hướng và dễ chịu hơn.

Họ lập mục tiêu cao hơn cho bản thân, lên kế hoạch tương lai nhiều hơn và hiểu biết hơn về sự thịnh vượng. Và so với những người thức khuya, họ ít căng thẳng, uống bia rượu hay hút thuốc hơn

Mặc dù người dậy sớm có thể đạt được nhiều thành tựu hơn về mặt học thuật, những người thức khuya có xu hướng làm việc tốt hơn về trí nhớ, tốc độ xử lý và khả năng nhận thức tốt hơn, thậm chí dù họ phải thực hiện công việc đó vào buổi sáng.

Người thức khuya thường cởi mở hơn đón nhận trải nghiệm mới và tìm kiếm thêm nhiều kinh nghiệm hơn. Họ có thể sáng tạo hơn (dù không phải lúc nào cũng vậy).

Và trái với châm ngôn (khỏe mạnh, thịnh vượng và thông tuệ), một nghiên cứu từng chỉ ra người thức khuya cũng khỏe mạnh giống như người hay dậy sớm - và thậm chí là giàu có hơn một chút.

Nên dậy sớm hay thức khuya?


Bạn vẫn còn nghĩ dậy sớm là yếu tố tạo thành một CEO? Đừng vội bật đồng hồ báo thức lúc 5 giờ sáng. Vì hóa ra, giảm thời gian ngủ không đem lại nhiều hiệu quả gì.

"Nếu con người được tự nhiên tuân theo thời gian họ thích, họ sẽ thấy khỏe hơn. Họ nói họ hoạt động năng suất hơn. Khả năng làm việc của não bộ tốt hơn," nhà sinh học Katharina Wulff từ Đại học Oxford chuyên nghiên cứu về nhịp sinh học và giấc ngủ, cho biết.

Theo bà, nói cách khác, đẩy một người ra quá xa khỏi thói quen tự nhiên có thể nguy hại. Ví dụ khi phải thức dậy sớm, cơ thể người thức khuya vẫn tiếp tục sản sinh ra melatonine, tức là một hormon điều chỉnh các hormon khác và duy trì nhịp sinh học.

"Khi bạn ngắt quãng và đẩy cơ thể sang trạng thái hoạt động ban ngày, điều này có thể có rất nhiều hệ quả sinh lý tiêu cực," Wulff nói, giống như sự nhạy cảm với insulin và đường glucose - có thể khiến tăng cân.

Theo nhiều cách lý giải, vì các nghiên cứu cho thấy nhịp sinh học của chúng ta, hay đồng hồ sinh học, chủ yếu là do hoạt động sinh học. (Các nhà nghiên cứu thậm chí còn phát hiện ra rằng nhịp hàng ngày của tế bào trong ống nghiệm thì hoạt động giống như nhịp của người cho tế bào đó).

47% của hành động là di truyền, nghĩa là nếu bạn muốn biết vì sao bạn dậy sớm mỗi ngày (hoặc không bao giờ dậy sớm), bạn có lẽ nên nhìn lại cha mẹ mình.

Một yếu tố trong gene có thể là chiều dài của chu kỳ hàng ngày: đồng hồ sinh học trung bình của con người là 24,2 giờ, nghĩa là mỗi người đều phải điều chỉnh chút ít để theo nhịp 24 giờ mỗi ngày.

Nhưng với người thức khuya, đồng hồ này thường chạy lâu hơn, nghĩa là, không có tác động thay đổi từ bên ngoài, họ sẽ ngày càng cảm thấy chậm buồn ngủ hơn, quen thức dậy trễ hơn.

Thói quen của bạn cũng thay đổi theo tuổi tác. Trẻ con thường có xu hướng dậy sớm, với đỉnh điểm và bắt đầu chuyển qua kiểu sống về đêm khi khoảng 20 tuổi, và từ từ thay đổi lại thói quen dậy sớm vào khoảng tuổi 50. Nhưng so với những người cùng tuổi, bạn có thể luôn rơi vào cùng một dải thời gian.

Dậy sớm chỉ là định kiến?

Trong nỗ lực tìm kiếm "bí mật" thành công, chúng ta có xu hướng quên mất một số thứ. Đầu tiên, không phải tất cả những người có thành tựu lớn đều là người dậy sớm, và không phải tất cả người dậy sớm đều thành công. (Những người ngủ dậy trễ nổi tiếng gồm có CEO của Box tên Aaron Levie và CEO của Buzzfeed Jonah Peretti, và những người hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo như James Joyce, Gertrude Stein và Gustave Flaubert cũng dậy trễ).

Nhưng quan trọng hơn, trong một phần được giới học thuật yêu thích, đó là tương quan không phải là nhân quả.

Nói cách khác, người ta vẫn không thể biết rõ liệu dậy sớm có đem lại tác dụng gì không. Thật ra việc phải dậy sớm rất có thể chỉ là bởi hầu hết chúng ta đều phải bắt đầu ngày làm việc hoặc đi học lúc 8 hoặc 9 giờ sáng.

Nếu bạn là người dậy sớm, sự kết hợp giữa thay đổi sinh học từ hormone đến nhiệt độ cơ thể sẽ giúp bạn vào việc sớm hơn những đồng nghiệp thức khuya.

Điều này có nghĩa những người thích dậy sớm sẽ nhanh chóng thích nghi với ngày làm việc và có vẻ như đạt được nhiều thành tựu hơn.

Với một người thức khuya phải dậy sớm vào 7 giờ sáng, cơ thể của họ vẫn nghĩ họ buồn ngủ và dẫn đến hành động kéo theo, vì thế họ sẽ lập cập lâu hơn người dậy sớm đã thức dậy cùng giờ.

Các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra đó là vì người thức khuya thường phải làm việc khi cơ thể họ không muốn, rõ ràng là họ có thể ở trong tình trạng cảm xúc tệ hơn hoặc ít hài lòng hơn về cuộc sống.

Điều này cũng có thể có nghĩa là nếu họ phải xác định cách để sáng tạo hơn và thay đổi thói quen - có thể giúp khuyến khích sự sáng tạo và nhận thức của họ.

Vì định kiến văn hóa cho rằng người đi ngủ muộn và dậy muộn là lười nhác, nên hầu hết mọi người đều cố gắng trở thành người dậy càng sớm càng tốt. Những người không cố gắng làm vậy có lẽ là những người có tính cách nổi loạn hoặc mang dấu ấn cá nhân mạnh mẽ hơn.

Nhưng chuyển nhịp sinh học của một người không nhất thiết sẽ thay đổi những tính chất đó.

Một nghiên cứu gần đây nhận thấy thậm chí dù mọi người cố gắng trở thành người dậy sớm, điều đó cũng không giúp họ có cảm xúc tích cực hơn về sự hài lòng trong cuộc sống.

Một nghiên cứu khác cũng cho thấy thói quen ngủ của bạn có thể "gắn liền" với các tính cách khác.


Trong một nghiên cứu gần đây chẳng hạn, Neta Ram-Vlasov từ Đại học Haifa phát hiện ra những người sáng tạo hơn về mặt hình ảnh thường khó ngủ hơn, hay thức dậy nhiều lần trong đêm hơn hoặc dễ bị mất ngủ hơn so với những người khác.

Một lần nữa, tương quan không nhất thiết tạo ra nhân quả, bà nói, nhưng có lẽ có liên kết nào đó trong gene. "Có một gene thụ thể dopamine trước đó liên kết với sự tăng cường sáng tạo và cả hiện tượng mất ngủ hoặc khó ngủ," bà nói.

Bạn vẫn nghĩ tốt hơn là nên chuyển thành người dậy sớm? Vậy buổi sáng để ánh sáng tự nhiên sớm tràn vào, tránh ánh sáng nhân tạo vào buổi tối và uống thêm melatonin theo giờ cố định sẽ giúp bạn đạt được điều này.

Nhưng vì bạn đang thay đổi nhịp sinh học hiệu quả, bất cứ thay đổi nào cũng phải có phương pháp và phải theo trật tự đến cùng. Và bởi vì người thức khuya thường có nhịp sinh học dài hơn, họ sẽ thấy khó chịu hơn với thời gian biểu 24 giờ, và điều này có thể khiến họ khó thành công hơn.

Vì thức dậy khi bình minh chẳng thể đảm bảo chúng ta sẽ trở thành CEO, ta nghĩ ta sẽ bấm nút báo thức lại với bất cứ thay đổi đáng kể nào trong thời gian biểu của mình.

Amanda Ruggeri
4 Jan 2018

Cơm và bệnh Tiểu đường


Ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp. Nhưng ăn ngon có cái nguy hiểm của nó, nhất là khi ở những nước sống lâu quá tuổi 60 mới nhìn thấy hậu quả.

Việc đầu tiên là cơm chúng ta ăn. Ở Mỹ hay Châu Âu hay Úc Châu, dân Việt vẫn coi cơm là cơ bản. Dân Á Châu là vậy, di dân sang Mỹ hay Úc họ vẫn coi cơm là món ăn chính, bánh mì không thể thay thế. Vì ăn cơm chặt bụng, no lâu và tiêu hóa dễ chịu hơn bánh mì vì cơm có số lượng nước liên kết chặt chẽ với bột, amylose hay amylopectin.

Và cơm là phải cơm trắng dẻo như Nàng Thơm hay Jasmine Thái Lan hay Kyoto Nhật Bản. Và phải hai bát mỗi bữa tức là phải 300 hay 400gr cơm một bữa..


Ngày xưa tổ tiên chúng ta chọn gạo là đúng vì khí hậu nhiệt đới không thể trồng lúa mì, lúa mì đòi hỏi khí lạnh nhiệt độ 17 độ C. Trồng gạo hai vụ rất lợi cho kinh tế và nhất là hột gạo có những chất bổ vô cùng hấp dẫn cả về phẩm chất cũng như số lượng.

Nhưng tiếc thay bao nhiêu chất bổ tập trung vào vỏ cám ngoài hạt và oái oăm hơn nữa, cám có nhiều chất lipoproteins rất bổ nhưng mau chóng bị chất enzyme lipase trong cám oxy hóa và trở nên khét không dự trữ được.

Các cụ chỉ có cách giã gạo cho bớt cám rồi ăn hạt, cám cho heo ăn. Tuy vậy bao gạo cũng không tồn trữ lâu được, phải đến thế kỷ thứ 19, khi Pháp sang làm nhà máy xay lúa mới giải quyết được vấn đề kinh tế, làm sao tồn trữ được bao gạo hàng năm, dùng máy xay cho trắng sạch gạo rồi đánh bóng “Polish” hạt gạo nhẵn và đều. Cám bị loại hết cho heo ăn. Nhưng tai hại cho sức khoẻ con người nhất là dân “khá giả” hay “trưởng giả”, may cho dân nghèo vẫn ăn gạo đỏ hay “gạo lức muối mè”.

Hạt gạo đã xay máy và đánh bóng chỉ còn tinh bột (starch) mà lúc đó là tinh bột tinh chế (Refined Starch) nó có đặc điểm của nó. Nó cũng như các Refined Starch từ lúa mì, nó không còn chất xơ (Fiber) tập trung trong cám; nó mất đi 67% Vitamin B3, 80% Vitamin B1, 90% Vitamin B6, một nửa số Manganese, môt nửa số Phosphorus, 60% Sắt (Iron), 100% chất xơ (Fiber) và tất cả những acid béo (fatty acids) cần thiết; mất tất cả Selenium, Magnesium. Đến nỗi, theo Luật Hoa Kỳ, gạo sản xuất ở Hoa Kỳ phải cho thêm B1, B2 và Iron nhưng cho thêm không thể nào bằng thiên nhiên.


Brown Rice, gạo đỏ cũng được sản xuất ở Hoa Kỳ nhưng không phải là dễ dàng, phải vô hiệu hóa chất enzyme lipase trong cám nếu không chỉ vài giờ sau là gạo hư. Phần nhiều người ta dùng nhiệt độ 80 độ C xấy khô nhưng gạo đỏ cũng chỉ tồn trữ được 6 tháng.

Khi đã xay vỡ vỏ thóc ngoài cùng, còn lại lớp cám (Bran) và nhân (Germ), xay nữa và mài nữa thì mất lớp Aleurone (rất nhiều chất béo cần thiết – essential fats). Nhưng như vậy mới tồn trữ được hột gạo trông rất trắng rất đẹp, ăn ngon vì mềm và thơm, nhưng chỉ còn bột tinh bột tinh chế (Refined Starch).


Nghiên cứu của Đại Học Tufts, Boston Massachusetts cho biết tinh bột tinh chế (Refined Starch) được hấp thụ ở ruột rất nhanh và nằm đó dưới tình trạng mỡ, mỡ xung quanh ruột, gan và vùng xương chậu (pelvis). Trông không mập, bụng không phệ nhưng có một lượng mỡ quan trọng trong vùng bụng xung quanh ruột. Cơ thể người coi ốm chứ không mập.

Đại học Tufts nghiên cứu một số người ăn bánh mì trắng tinh bột (starch) so với một số người ăn bánh mì có cám (bran) có chất sơ (fiber). Sau 1 năm rưỡi, những người ăn bánh mì tinh bột thấy dây thắt lưng phải nới thêm (1/2 inch mỗi năm). Có vẻ đường hấp thụ thì Insulin đẩy vào tồn trữ ngay trong những tế bào mỡ xung quanh ruột. Và những người đó có nguy cơ bị bệnh tiểu đường loại 2 (Diabetes type 2), đường trong máu cao hơn nhóm ăn bánh mì nâu có cám (bran).


Sau đó nước Mỹ thay đổi cách ăn uống, khẩu hiệu White Bread Around Waist (Bánh mì trắng bụng tròn) do Bộ Y tế (Dept of Health and Human Services) tung ra và các siêu thị (Supermarket) thay đổi bộ mặt tại gian hàng bánh mì. Bánh mì trắng vẫn còn bán nhưng không được trắng lắm vì FDA ra lệnh ít nhất phải 51% chất xơ (Fiber) trong bánh mì. Và vô số bánh mì có chữ W tức là Whole grain (ngũ cốc nguyên hạt) không được Refined Starch (tinh bột tinh chế)nữa.

Và nay người ta biết tại sao. Các tế bào mỡ vùng xung quanh ruột rất quan trọng trong vai trò điều hòa bằng tín hiệu (signaling), sản xuất nhiều hormons, cytokines đi hoạt động ở nhiều bộ phận vùng bụng như tuyến tụy (Pancreas). Một cytokine khích động NF-KB pathway làm chất Insulin không còn hữu hiệu nữa. Insulin Resistance (Đề kháng Insulin là định nghĩa của bệnh tiểu đường loại 2)


Tiểu đường loại 1 là tuyến tụy (Pancreas) không sản xuất được Insulin hay sản xuất rất ít, phần nhiều người trẻ do di truyền hay cơ thể tự miễn nhiễm (autoimmunity) sau khi nhiễm siêu vi trùng ở tuyến tụy (Pancreas). Tiểu đường loại 2 là sản xuất Insulin nhưng không hữu hiệu tại vì các tế bào ngay chính địa bàn hoạt động của Insulin không nhận ra Insulin nữa. Insulin có nhiệm vụ là mở chìa khóa cửa các tế bào mỡ, gan và bắp thịt cho đường trong máu vào tồn trữ. Đầu tiên là các tế bào Beta của tuyến tụy (pancreas) cũng không nhận ra Insulin, mất chức năng Feedback điều hòa. Bệnh nhân tiểu đường loại 2 phần nhiều là có tuổi trên 45 khi Insulin và tuyến tụy (Pancreas) bắt đầu thấm mệt. Và người trẻ cũng bi bệnh này nếu quá mập hay ăn quá nhiều đường, số lượng Insulin không cáng đáng nổi.

Con số 22,5% người Việt Nam trên 65 bị tiểu đường loại 2 ở Hoa kỳ không làm ngạc nhiên chút nào. Ông Việt Kiều Hải Ngoại sáng chế ra những thức ăn nhiều bột tinh chất hay mỡ với số lượng kinh hoàng như bánh mì Ba Lẹ, chiêu với cà phê sữa đặc Ông Thọ hay Borden 30% đường nguyên chất. Xong rồi tráng miệng bằng chè đường. Nhiều gia đình ông tiểu đường, cháu béo phì vì bà chiêu đãi mỗi tối một bữa chè. Ở Việt Nam cũng vậy, từ 10 năm nay giai cấp giầu có cũng béo phì và tiểu đường như hải ngoại. Béo phì ảnh huởng tới di truyến (genes), bố mẹ béo thì con cũng vậy.

Khi đường trong máu cao thì chỉ có hai cách chữa chạy, phần nhiều là phải thực hiện cả hai; bỏ đường, bỏ bột tinh chất và cử động bắp thịt (exercise). Nếu không ăn kiêng thì không thuốc nào trị nổi. Có nhiều thực vật có khả năng hạ đường một chút (chúng tôi đã thử một số) như Okra, đậu đũa, lá xương rồng, lá dứa, lá ổi, đậu đen, tỏi ta ngâm rượu v.v…, nhưng không thay thế nổi insulin và nhất là ăn kiêng (diet). Không thay thế nổi các thuốc hypoglycemiants tác dụng trên tuyến tụy (pancreas) hay gan hay ruột.

Khi đường trong máu lên tới con số trên 126mg/dl khi nhịn đói lúc sáng sớm thì bắt đầu bênh tiểu đường. Và đầu tiên đi nha sĩ vì đường cao đưa đến nhiễm trùng mọi nơi trên cơ thể, đặc biệt là răng và lợi. Trong mồm có môt số lượng lớn vi trùng, 30 thứ vi trùng nhiều thứ ta chưa biết tên. Nhiễm trùng răng lợi đưa đến nhiễm trùng nơi xa xôi như tim (endocarditis) và thận (pyelonephritis)


Khi đường trong máu lên cao, nó tác hại nhẹ nhàng nhưng liên tục tới mọi tế bào đặc biệt là tế bào nội mạch (endothelial) trên màng trong các mạch máu. Tế bào bị hư hại và vữa xơ động mạch (atherosclerosis) xuất hiện, cholesterol và calcium đóng mảng (Atheroma plaque) mở đường cho máu đang chảy bị đông lại (thrombosis). Màng nền (Basement membrane) của mạch máu dày thêm nhưng không vì thế mà chắc chắn thêm, trái lại yếu đi, máu thoát vào làm chảy máu ngay trong thành của mạch. Mạch tắc thiếu dinh dưỡng thiếu oxy cho mọi cơ và bộ phận bị chi phối. Mọi bộ phận từ óc tới ngón chân bị ảnh hưởng, nhưng tai hại nhất là tim, thận, thấu kính (lens) và võng mạc (retina) tại mắt, và tế bào thần kinh. Mọi mạch máu bị ảnh hưởng, từ động mạch lớn, trung và nhỏ. Người bị tiểu đường nếu thoát được bệnh nhồi máu cơ tim (Cardiovascular accident heart attack), đột quỵ (cerebro vascular accident stroke) thì tương lai của họ là thận suy phải thường xuyên lọc máu (dialysis). Và cuối cùng là tắc tĩnh mạch sâu ở chân (deep vein thrombosis), sau cùng phải cắt chân.

Chất đường glucose không được dùng hết cho sản xuất năng lực, còn một số chất thải được phân hóa theo glycosalisation bằng hai hệ thống. Hệ thống không cần enzyme, đường dính với protein và từ từ thành những chất trung gian như Schiff base, Amodari products (???) tỷ lệ thuận với đường trong máu.


Vì vậy bác sĩ theo dõi tình trạng đường bệnh nhân bằng cách đo Hemoglobin A1C và biết tình trạng trong 6 tuần hay 2 tháng vừa qua, đo đường glycemia chỉ cho biết tình trạng ngày hôm nay mà thôi. Hemoglobin A1C người thường từ 4 đến 5, tới 5,7 là tình trạng "tiền tiểu đường" hay Prediabetic, 7 là tiểu đường không còn kiểm soát nổi.

Khi chúng ta trình diện tại phòng mạch bác sĩ với tình trạng tiểu đường loại 2 phải chờ đợi một khuyến cáo, ông bác sĩ nào cũng vậy "anh hay chị phải giải quyết cái gánh nặng dư 5 hay 10 ký quá mức thì thuốc mới hữu hiệu". Anh chị ăn ít đi và tập thể dục nhiều lên". Nói thì dễ mà làm thực khó. Một cuộc chiến đấu gay go và cam khổ cả năm hay cả đời lúc thắng lúc bại.

Glycemic Index (GI) là một chỉ số đo số lượng của món ăn về phương diện đường, ăn xong phần nhiều là 50gr 2 tiếng sau đo đường trong máu, so với 50gr đường nguyên chất Glucose. Đo diện tích (Area under curve) giữa đường cong và trục X (thời gian, t, số giờ) và tính nếu bằng glucose là GI 100. Nếu chỉ bằng phần mười diện tích đường cong Glucose thì GI là 10. Nếu món ăn được hấp thụ ngay qua ruột như glucose thì GI cao 100 hay gần như vậy.. Nhưng nếu món ăn được hấp thụ dần dần một cách nhịp nhàng như trường hợp có nhiều xơ (fiber) thì GI thấp chỉ 10 hay 20.

Tùy món ăn trong ruột được phân hóa nhanh hay chậm, nhịp nhàng hay không, cách kết hợp của chất bột với xơ, với phân tử protein và mỡ, tùy theo chất tinh bột starch ra sao như bột gạo chất amylose cứng có GI thấp, chất amylopectin dẻo thì GI cao. GI gạo trắng cao hơn GI gạo nâu khá xa. Tùy theo số lượng Protein trong món ăn, số lượng acid hữu cơ (organic acid). Ví dụ có dấm thì GI thấp hơn, có mỡ và chất xơ fiber thì dạ dày chậm mở hơn. Bánh mì nâu GI thấp hơn bánh mì trắng nhưng nếu cho enzymes vào cho dẻo thì GI lên cao ngay. Trái cây và rau có GI đặc biệt thấp nhưng vài trái cây như soài theo kinh nghiệm cá nhân tôi thì GI cao.

Còn về số lượng thì dùng Glycemic Load. Có món ăn rất ngọt nhưng nhiều nước không thể so với món ăn ngọt nặng về đường. Và còn tùy theo khẩu phần (serving) là bao nhiêu, ông Mỹ hay Châu Âu khẩu phần bánh mì trắng là 30-50gr, ông Việt Nam bánh mì Ba Lẹ tới 300gr, mập là cái chắc. Cơm trắng ông Mỹ hay ông Úc tính khẩu phần chỉ 150gr cơm, ông Việt Nam hai bát nhỏ là 200gr rồi.

Glycemic Load là tính theo phưong trình GL= GI x số lượng gr đường trong khẩu phần chia cho 100. Glycemic Load từ 1 đến 10 là thấp, 10 là trung bình, 20 là cao.

Vấn đề ăn uống không thể trông cậy vào ai, phải tự mình lo cho thân mình. Không thể lúc nào cũng ăn một mình một mâm theo sách vở. Món ăn phải hợp khẩu, vì mình ăn không ngon thì không thể nhịn lâu được. Biết bao trường hợp thành công một thời gian rồi đâu vào đó. Phải biết Glycemic Index và Glycemic load của từng món, ăn cho đủ không thể ăn đói..

Glycemic load cao nhất là cơm nếp rồi tới cơm hay cháo đặc trắng rồi tới cơm hay cháo đặc gạo nâu vì có cám. Bánh mì bagel trắng GL cao nhất là 28, baguette của Pháp GL 15. Bánh mì whole wheat chỉ có 9, whole grain bread chỉ có 7, Cơm Gạo Jasmine được dân Việt Kiều ưa chuộng cao kỷ lục về cả GI lẫn GL. Chúng ta bị mập béo tiểu đường là lẽ dĩ nhiên. Chúng ta không cần biết tới khuyến cáo của Bộ Y Tế Mỹ, vẫn khư khư bám lấy gạo Thái Lan Nàng Thơm cho khoái khẩu. Chúng ta không cần biết vì không muốn biết.

Nghiên cứu từ Đại Học Harvard đăng trong American Journal of Nutrition. Nghiên cứu 12 năm liền với 74.000 nữ điều dưỡng cho thấy càng ăn nhiều chất xơ fiber thì càng bớt cân.

Gạo trắng mất đi 45% trọng lượng hạt nguyên thủy khi mất vỏ cám (Bran) nguy hại không phải chỉ về vấn đề đường mà thôi. Nguy hiểm hơn nữa là mất rất nhiều dinh dưỡng không thể thay thế được. Mớ mỡ xung quanh ruột và tràn ra máu Triglycerides cao rất khó giải quyết vì thiếu nhiều công cụ để phân hủy mỡ. Khó giải quyết vì nằm sâu trong bụng, xa các bắp thịt chân và tay.

Muốn giải quyết lớp mỡ phải cần tới hàng ngàn phản ứng Enzyme phân hóa và trao đổi hàng ngàn metabolites. Phải cần nhiều loại enzymes chống oxydation các fatty acids. Cám Bran có 120 chất antioxydants, có đầy đủ sinh tố (Vitamins), chỉ trừ có Vitamin D và C. Có đầy đủ các loại phytosterols, Beta sitosterols, fibers, Vitamin E Complex, đầy đủ các loại B Complex B1 B2 B3 ngay cả Vitamin B15 hiếm có. Có Enzyme Q10, nhất là Omega 3, Omega 6 fatty acids, không có thì không thể giải quyết được Triglycerides cao trong máu. Omega 3 fatty acids trong dầu cá fish oil dùng để trị mỡ Triglycerides cao trong máu đã được các bác sĩ dùng từ lâu, 3 viên mỗi viên 1000mg Omega 3 fatty acids có thể giảm lượng Triglycerides 300 hay 350mg/dl xuống 150 trong vòng vài tháng.

Tiếc thay một phần lớn những chất bổ đó bị hủy nếu đun sôi trong 45 phút. Tiếc thay cám từ gạo – "mỏ vàng chất bổ" dùng để làm cám nuôi heo.

Dầu trong cám chứa nhiều chất chống oxi-hóa (Antioxydants) hơn mọi thứ dầu thực vật khác, , Vitamin E tocopherol, tocotrienol và nhất là oryzanol (2417 phần trong 1 triệu), hơn hẳn cả về lượng cũng như phẩm dầu đậu nành soybean, bắp (corn), canola, cotton seed, sunflower.

Có Enzyme thì phải có Co-enzyme. Cám cho ta đầy đủ số lượng Manganese, Selenium, Magnesium. Mn là Coenzym cho nhiều phản ứng antioxidant. Nhiều phản ứng phát sinh năng lượng, phân hóa và sản xuất proteins, fatty acids, cholesterol, metabolites cho sex hormons và mediators cho tế bào thần kinh.

Selenium quan trọng không kém, phối hợp chặt chẽ với xơ trong tiêu hóa và chống oxi-hóa (oxydation). Đặc biệt chống ung thư (?), phối hợp với Glutathion, sinh tố E.

Magnesium phối hợp chặt chẽ với Ca, được gọi là Calcium channel blocker thiên nhiên, không thể thiếu trong mọi phạm vi hoạt động của Ca như xương, thần kinh, và bắp thịt..


Vì thế gạo trắng tinh chúng ta ăn thiếu những dinh dưỡng cần thiết. Gây cho chúng ta những vấn đề như tiểu đường loại 2. Không thể giải quyết được nạn Việt kiều tiểu đường loại 2 nếu không đi vào nguyên nhân như người Mỹ đã làm. Không dễ đâu vì người Mỹ cũng có một số nhất định vẫn ăn bánh mì trắng. Dân Việt cũng như dân Á Châu khác có vẻ cứ ăn gạo ngon, bệnh tật tính sau.

Nam Minh Bách
2 Jan 2018

Bài học cuộc sống


1. Phải có ước mơ. Nếu bạn không xây dựng ước mơ của mình, người khác sẽ dùng bạn để xây dựng ước mơ của họ.
2. Kiên trì, kiên trì thực hiện ước mơ của bạn, nhất định sẽ đến ngày thắng lợi
3. Đừng dựa dẫm vào bất kỳ ai ngoài chính bạn, vì ngay cả cái bóng của bạn cũng rời bỏ bạn những lúc tối tăm.
Hãy trung thực trong những việc nhỏ bởi sức mạnh của bạn nằm ở đó.
1. Bạn không thể sống được 100 năm nên đừng kiếm tiền để đủ sống cho 1000 năm. Miếng ăn càng to càng dễ bị nghẹn.

2. Chỉ cần mất 2 năm để học nói, nhưng sẽ mất cả đời để học những gì không nên nói.

3. Người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về; đừng bỏ rơi tổ ấm của bạn.

4. Bạn chẳng bao giờ nhận ra những thứ bạn có quan trọng như thế nào cho đến khi bạn đánh mất nó.

5. Hãy trung thực trong những việc nhỏ bởi sức mạnh của bạn nằm ở đó.

6. Người sống nhiều hơn không phải là người cao tuổi hơn, mà là người biết sử dụng cuộc sống của mình tốt hơn.

7. Người khác chỉ quan tâm tới thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, chỉ quan tâm làm ra thành tựu, đừng quan tâm tới bất kỳ điều khác.

8. Chắc chắn tiền không phải là tất cả, nhưng cần phải có tiền vì có tiền thì mọi thứ sẽ luôn luôn dễ dàng hơn.

9. Không có hoàn cảnh nào là tuyệt vọng. Trong mọi hoàn cảnh đều có sẵn lối thoát. Hãy bình tĩnh tìm ra lối đó.

10. Đừng tranh luận đúng sai, hơn thua. Hãy sống bình an và chỉ làm những gì bạn cho là đúng.

Đời sống
19 Dec 2017

Hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm máu


Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3.

Cách đọc kết quả xét nghiệm máu hay nước tiểu là điều bạn cần khi đi khám sức khỏe vì các bác sĩ vẫn hay chỉ định bệnh nhân đi làm xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu. Tuy nhiên nếu bác sĩ không giải thích thì bạn cũng không thể hiểu được các chỉ số trên kết quả xét nghiệm có ý nghĩa gì. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây để cùng tìm hiểu về cách đọc kết quả xét nghiệm máu.

I. CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÔNG THỨC MÁU

- WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3, tương đương với số lượng bạch cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.3 đến 10.8 x 109tế bào/l.

Tăng trong viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn...

- RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu (hoặc erythrocyte count) trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3, tương đương với số lượng hồng cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 đến 5.9 x 1012tế bào/l.

Tăng trong mất nước, chứng tăng hồng cầu; giảm trong thiếu máu.

- HB hay HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Hemoglobin là một loại phân tử protein có trong hồng cầu chuyên chở oxy và tạo màu đỏ cho hồng cầu.

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 13 đến 18 g/dl đối với nam và 12 đến 16 g/dl đối với nữ (tính theo đơn vị quốc tế tương ứng là 8.1 – 11.2 millimole/l và 7.4 – 9.9 millimole/l).

Tăng trong mất nước, bệnh tim và bệnh phổi; giảm trong thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu.

- HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu trên thể tích máu toàn bộ):

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 45 đến 52% đối với nam và 37 đến 48% đối với nữ.

Tăng trong các rối loạn dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu; giảm trong mất máu, thiếu máu, thai nghén.

- MCV (Mean corpuscular volume – Thể tích trung bình của một hồng cầu):

Giá trị này được lấy từ HCT và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 80 đến 100 femtoliter (1 femtoliter = 1/1triệu lít).

Tăng trong thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, bất sản tuỷ xương, xơ hoá tuỷ xương; giảm trong thiếu hụt sắt, hội chứng thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thiếu máu nguyên hồng cầu, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì.

- MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Số lượng trung bình của huyết sắc tố có trong một hồng cầu):

Giá trị này được tính bằng cách đo hemoglobin và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 27 đến 32 picogram.

Tăng trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh; giảm trong bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo.

- MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ trung bình của huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 32 đến 36%.
Trong thiếu máu tăng sắc: hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.

Trong thiếu máu đang tái tạo: có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12, xơ gan, nghiện rượu.

- PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):

Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân hoặc thân của tế bào) từ những tế bào được tìm thấy trong tủy xương.
Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình là 5 đến 9 ngày.
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 150.000 đến 400.000/cm3 (tương đương 150 – 400 x 109/l).
Số lượng tiểu cầu quá thấp sẽ gây mất máu. Số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu, dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...
Tăng trong những rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh bạch tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách..., dẫn đến các bệnh viêm.
Giảm trong ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh...

Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng.

- LYM (Lymphocyte – Bạch cầu Lymphô):

Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Có rất nhiều nguyên nhân làm giảm lymphocytes như: giãm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, Lao, sốt rét, ung thư máu, ung thư hạch...

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 20 đến 25%.

- MXD (Mixed Cell Count – tỷ lệ pha trộn tế bào trong máu):

Mỗi loại tế bào có một lượng % nhất định trong máu. MXD thay đổi tùy vào sự tăng hoặc giảm tỷ lệ của từng loại tế bào.

- NEUT (Neutrophil – Tỷ lệ bạch cầu trung tính):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 60 đến 66%. Tỷ lệ tăng cao cho thấy nhiễm trùng máu.

Tăng trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ; giảm trong nhiễm virus, thiếu máu bất sản, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị...

- RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):

Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 11 đến 15%.

RDW bình thường và:

MCV tăng, gặp trong: thiếu máu bất sản, trước bệnh bạch cầu.
MCV bình thường, gặp trong: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.
MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, bệnh thalassemia dị hợp tử

RDW tăng và:

MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn.
MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin.
MCV giảm: thiếu sắt, sự phân mảnh hồng cầu, bệnh HbH, thalassemia.

- PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6 đến18 %.

Tăng trong ung thư phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm; giảm trong nghiện rượu.

- MPV (Mean Platelet Volume – Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6,5 đến 11fL.

Tăng trong bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp...

- P- LCR (Platelet Larger Cell Ratio – Tỷ lệ tiểu cầu có kích thước lớn):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 150 đến 500 G/l (G/l = 109/l).
II. CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ SINH HÓA MÁU

GLUCOSE là đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l.
GLUCOSE là đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l.

1. GLU (GLUCOSE): Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.

2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan

Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm. Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như:
Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.

3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES

Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau:

Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL.
Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID.
Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles.
Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles.

Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp. Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà... Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.

4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.

5. URE (Ure máu): là sản phẩm thoái hóa quan trọng nhất của protein được thải qua thận.

Giới hạn bình thường: 2.5 - 7.5 mmol/l.

6. BUN (Blood Urea Nitrogen) = ure (mg) x 28/60; đổi đơn vị: mmol/l x 6 = mg/dl.

Tăng trong: bệnh thận, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng, tắc nghẽn đường tiểu...
Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng, suy kiệt...

BUN: là nitơ của ure trong máu.

Giới hạn bình thường 4,6 - 23,3 mg/dl. -> Bun = mmol/l x 6 x 28/60 = mmol/l x 2,8 (mg/dl).

Tăng trong: suy thận, suy tim, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng..
Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng..

7. CRE (Creatinin): là sản phẩm đào thải của thoái hóa creatin phosphat ở cơ, lượng tạo thành phụ thuộc khối lượng cơ, được lọc qua cầu thận & thải ra nước tiểu; cũng là thành phần đạm ổn định nhất không phụ thuộc vào chế độ ăn -> có giá trị xác định chức năng cầu thận.

Giới hạn bình thường: nam 62 - 120, nữ 53 - 100 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong : bệnh thận, suy tim, tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, NMCT cấp...
Giảm trong : có thai, sản giật...

8. URIC (Acid Uric = urat): là sản phẩm chuyển hóa của base purin (Adenin, Guanin) của ADN & ARN, thải chủ yếu qua nước tiểu.

Giới hạn bình thường: nam 180 - 420, nữ 150 - 360 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong:

Nguyên phát: do sản xuất tăng, do bài xuất giảm (tự phát) -> liên quan các men: bệnh Lesh Nyhan, Von Gierke..
Thứ phát: do sản xuất tăng (u tủy, bệnh vảy nến..), do bài xuất giảm (suy thận, dùng thuốc, xơ vữa động mạch..).
Bệnh Gout (thống phong): tăng acid uric/ máu có thể kèm nốt tophi ở khớp & sỏi urat ở thận.

Giảm trong: bệnh Wilson, thương tổn tế bào gan..

9. KẾT QUẢ MIỄN DỊCH

Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml).
HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH).

Last Visitors


13 Feb 2012 - 8:12


11 Feb 2012 - 12:45


26 Jan 2012 - 21:28


20 Jan 2012 - 11:20


1 Jan 2012 - 2:23

Comments
Other users have left no comments for Tulip.

Friends
There are no friends to display.
Lo-Fi Version Time is now: 18th January 2018 - 11:10 PM